CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm và vai trò của cơ sở GDĐH công lập 1. Khái niệm cơ sở GDĐH công lập Theo Luật số 34/2018/QH14 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH ban hành ngày 19/11/2018, cơ sở GDĐH là cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ GDĐH, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng.
Cơ sở GDĐH có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở GDĐH có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Luật cũng phân cơ sở GDĐH thành 2 loại hình gồm: Cơ sở GDĐH công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu; Cơ sở GDĐH tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, đảm bảo điều kiện hoạt động. Từ những khái niệm mà Luật đã quy định có thể thấy, Cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu của Nhà nước, do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và bố trí nguồn nhân sự gồm đội ngũ quản lý, đội ngũ giảng viên,… với mục tiêu thực hiện nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu do Nhà nước giao theo hướng phi lợi nhuận. Các cơ sở GDĐH công lập được Nhà nước đảm bảo điều kiện hoạt động bằng nguồn tài chính từ NSNN chủ yếu là chi thường xuyên và đầu tư CSVC.
Ngoài ra, các cơ sở GDĐH công lập được phép thu các khoản ngoài NSNN như thu học phí, dịch vụ đào tạo, NCKH và các khoản tài trợ viện trợ. Tuy nhiên, các khoản thu ngoài NSNN phải căn cứ quy định về mức thu cũng như loại nguồn thu theo quy định của Nhà nước.2 Vai trò của cơ sở GDĐH công lập Cơ sở GDĐH công lập đào tạo ra nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất chính trị, có khả năng cập nhật kiến thức phù hợp với sự thay đổi của môi trường lao động, và có ý thức phục vụ nhân dân. Từ đó, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Khái niệm về cơ chế TCTC Cơ chế là “Một cách thức mà theo đó là một quá trình thực hiện” (theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 1996).
Tự chủ là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc tổ chức, không bị cá nhân , tổ chức khác chi phối (theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 1996). Từ những khái niệm trên, có thể hiểu, cơ chế TCTC là cách thức thực hiện việc điều hành, quản lý tài chính của cá nhân hoặc tổ chức mà không bị cá nhân và tổ chức khác chi phối. Khái niệm về cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập Theo nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ về “Nghị định Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập” đã chỉ rõ “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công” [12] Từ khái niệm về cơ chế tự chủ và cơ chế TCTC, có thể hiểu cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập là tập hợp các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GDĐH công lập trong hoạt động tài chính. Các quy định này được ban hành bằng văn bản của Nhà nước để căn cứ vào đó các Cơ sở GDĐH 13 công lập có quyền tự quyết định trong công tác điều hành, quản lý tài chính đơn vị mình mà không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối.
Theo tổng quan nghiên cứu thì có thể thấy, tài chính ở đây không chỉ là đơn thuần là nguồn lực tiền tệ mà còn có nguồn lực phi tiền tệ, cụ thể: (1) Nguồn lực tiền tệ bao gồm nguồn từ NSNN cấp và nguồn thu ngoài NSNN; (2) Nguồn lực phi tiền tệ gồm bộ máy nhân sự, CSVC và đất đai. Vì vậy, theo cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập, thủ trưởng đơn vị có quyền quyết định khai thác, sử dụng nguồn lực tiền tệ, phi tiền tệ để phục vụ cho các hoạt động theo mục tiêu và chức năng của đơn vị. Cơ chế TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập được hoạt động một cách hiệu quả thì các khía cạnh của TCTC cần được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể: Thứ nhất, tự chủ về thu Về nguồn thu cần làm rõ mức độ tự chủ trong từng loại nguồn, trong đó: (1) Tự chủ đối với nguồn thu từ NSNN: Các Cơ sở GDĐH công lập được quyền lập dự toán ngân sách dựa trên quy mô và khả năng hoàn thành các nhiệm vụ do Nhà nước giao. đối với mức độ hoàn thành nhiệm vụ khác nhau các cơ sở sẽ được cấp NSNN theo mức phù hợp.
(2) Tự chủ đối với nguồn thu ngoài NSNN: Các Cơ sở GDĐH công lập được quyền xây dựng danh mục thu, mức thu đối với các khoản thu từ học phí, thu ngoài học phí, các dịch vụ khác như nghiên cứu khoa học, đào tạo khác,… Thứ hai, tự chủ về chi Bao gồm tự chủ về chi thường xuyên và tự chủ chi đầu tư, mua sắm cơ sở vật chất, cụ thể: (1) Tự chủ chi thường xuyên: Các cơ sở GDĐH công lập được xây dựng quy chế, quy định về mức chi trả tiền lương, tiền công, học bổng sinh viên,… 14 (2) Tự chủ chi đầu tư, mua sắm cơ sở vật chất: Dựa trên nhu cầu sử dụng và khả năng tài chính, các cơ sở GDĐH công lập có quyền lập kế hoạch, phê duyệt dự toán để mua sắm, đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo theo đúng quy định. Thứ ba, tự chủ về phân phối kết quả tài chính Trong quá trình thực hiện báo cáo tài chính, sau khi cân đối thu chi, các cơ sở GDĐH công lập có quyền sử dụng phần chênh lệch thu chi để trích lập quỹ. Thứ năm, tự chủ về quản lý và sử dụng tài sản Các Cơ sở GDĐH công lập có quyền sử dụng CSVC và đất đai để gia tăng nguồn thu thông qua các hình thức cho thuê kinh doanh, cho thuê liên kết đào tạo, vay vốn,… theo đúng quy định. Tính tất yếu khách quan của việc thực hiện TCTC tại các cơ sở GDĐH công lập 1.
Tính tất yếu Đất nước đang tiến vào thời kỳ hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội dẫn tới nhu cầu về đội ngũ lao động trình độ cao ngày càng tăng. Với những yêu cầu đặt ra, việc phát triển môi trường giáo dục là mục tiêu chính trị hàng đầu. Cơ sở GDĐH công lập với vai trò đào tạo ra nguồn nhân lực trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất chính trị, có khả năng cập nhật kiến thức phù hợp với sự thay đổi của môi trường lao động, và có ý thức phục vụ nhân dân. Từ đó, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
để phát huy được vai trò của các Cơ sở GDĐH công lập rất cần có sự đầu tư thích đáng về con người, nguồn lực tài chính,… Trước tính hình nhu cầu về cải cách, phát triển giáo dục ngày càng tăng trong khi nguồn lực đầu tư từ NSNN cho giáo dục có giới hạn tạo ra những thách thức lớn cho các cơ sở GDĐH công lập trong việc mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng 15 đào tạo. Vì vậy, đa dạng hóa, huy động nguồn thu ngoài NSNN cho các cơ sở GDĐH công lập là điều rất cần thiết. Với định hướng xây dựng đất nước theo hướng “Nhà nước có năng lực và trách nhiệm giải trình” (“Việt nam 2035” wb - Bộ Kế hoạch và đầu tư 2016) thì chính các đơn vị công lập cần được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và có khả năng giải trình với xã hội trong đó có các Cơ sở GDĐH công lập. Vai trò của Nhà nước cần chuyển đổi từ vị thế của một nhà sản xuất và chỉ huy sản xuất sang điều tiết và hỗ trợ sản xuất để từ đó quản lý đất nước theo hướng vĩ mô.
Từ những nguyên nhân trên có thể thấy, trao quyền TCTC sẽ giải quyết những vấn đề mâu thuẫn giữa nguồn lực tài chính và nhu cầu, định hướng phát triển của các Cơ sở GDĐH công lập. Việc này sẽ thúc đẩy sự năng động, sáng tạo, linh hoạt trong huy động, quản lý nguồn tài chính, từ đó giảm nhẹ gánh nặng lên NSNN. Ngoài ra, trao quyền TCTC sẽ đẩy cao trách nhiệm của Cơ sở GDĐH công lập từ đó bắt buộc các Cơ sở GDĐH công lập phải tự đổi mới cách thức quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng được yêu cầu mà Nhà nước đề ra. Chính vì vậy, trao quyền TCTC cho các Cơ sở GDĐH công lập là việc làm mang tính tất yếu.
Tính khách quan Với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng sâu và rộng nằm đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững đòi hỏi đội ngũ lao động phải có trình độ chuyên môn cao và khả năng thích nghi với các môi trường công việc khác nhau. Theo số liệu thống kê năm 2019, tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2019 đạt 22,8%, năm 2018 là 22,1% từ đó có thể thấy trình độ lao động có chuyên môn hạn chế chưa phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập giáo dục đã và đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn đối với phát triển kinh tế xã hội nói chung và GDĐH nói riêng. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế là một xu thế 16 khách quan, vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước để bảo vệ quốc gia.
Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.