PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng và tích cực lãnh đạo, chỉ đạo toàn hệ thống chính trị tổ chức thực hiện nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Hội nghị Trung ương 5 khóa XII ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017, về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiếp tục chỉ rõ: “Hoàn thiện thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập về phạm vi hoạt động, tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính gắn với cơ chế đánh giá độc lập” [2].
Ngày 21/6/2021, Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. Những điều chỉnh này ban đầu đã tạo ra những thuận lợi cho các cơ sở giáo dục công lập khi được giao thêm quyền tự chủ và nâng cao trách nhiệm trong việc minh bạch hoạt động của mình và linh hoạt trong việc tìm kiếm các nguồn vốn cho việc giáo dục trong xã hội. Tuy nhiên, 1 việc giao quyền này vẫn còn rất ít và chưa thực sự phù hợp; mặc dù có trao quyền tự chủ nhưng việc kiểm soát mức thu phí theo các quy định của Nhà nước là không linh hoạt, vẫn khống chế mức trần thu học phí; công tác nhân sự và bộ máy chưa được chủ động hoàn toàn. Việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, 60/2021/NĐ-CP đã được thực hiện và đã đạt nhiều kết quả tích cực.
Sự can thiệp của cơ quan quản lý Nhà nước đối với đơn vị SNCL đã được giảm bớt, tạo điều kiện cho việc kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy tính dân chủ, chủ động, sáng tạo của người lao động và tạo quyền tự chủ, chủ động cho đơn vị trong việc quản lý chi tiêu tài chính. Qua khảo sát tại Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đối với việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, sau đó là 60/2021/NĐ-CP, NĐ 43/2006/NĐ-CP, kết quả thu được cho thấy tác động tích cực của cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSN công lập; bên cạnh đó việc tổ chức thực hiện cơ chế TCTC cũng có những vấn đề bất cập, hạn chế tác động đối với kết quả của quá trình đổi mới. Nhận thức rõ tính chất cấp thiết của vấn đề, tôi đã lựa chọn đề tài “Cơ chế tự chủ tài chính Trường Đại học Thủ đô Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý kinh tế tại Học viện Hành chính quốc gia với hy vọng góp phần tích cực cho việc hoàn thiện cơ chế tự chủ của Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Từ khi Nghị định 43/2006/NĐ-CP và sau nữa là Nghị định 16/2015/NĐ- CP và mới nhất là Nghị định 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ ban hành và được áp dụng cơ chế tự chủ tài chính của ĐVSN công lập cho đến nay, đây là vấn đề thu hút nhiều mối quan tâm của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, lãnh đạo Cơ quan, ban ngành, địa phương.
Đã có nhiều hội nghị sơ kết, tổng kết về việc triển khai sau mỗi giai đoạn áp dụng và các vấn đề liên quan chính sách giáo dục và đào tạo, trong đó có chính sách huy động và quản lý hiệu quả nguồn lực tài 2 chính, chế độ quản lý tài chính đối với các cơ sở đại học, cao đẳng đã được đề cập qua nhiều công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước. Qua nghiên cứu, tác giả ghi nhận được một số công trình như: nhận của cộng đồng. Dựa trên những tiêu chí này, tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp tương ứng nhằm hoàn thiện cơ chế TCTC tại các trường Đại học và Cao đẳng tại Việt Nam [7] Trong bài viết “Thực trạng và giải pháp triển khai cơ chế tự chủ tại các cơ sở giáo dục đại học công lập” Nguyễn Thị Thu Hà đã đề cập đến những thành tựu đạt được khi áp dụng cơ chế tự chủ, bao gồm: (1) sự khẳng định vai trò và vị thế ngày càng tăng của các cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống; (2) việc tăng cường năng lực cho đội ngũ giảng viên; (3) sự chuyển biến rõ rệt trong chất lượng đào tạo; (4) sự tập trung đặc biệt vào công tác đảm bảo chất lượng; (5) sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động nghiên cứu, Khoa học Công nghệ (KHCN), và hợp tác quốc tế; (6) sự nâng cao năng lực tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học công lập. Tuy nhiên, bài viết cũng chỉ ra một số thách thức vẫn tồn tại, gồm: (1) thiếu sót và không đồng bộ trong cơ chế và chính sách về tự chủ, với một số nội dung chưa được thống nhất và thiếu chính sách, cơ chế mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình tự chủ; (2) sự thiếu kết nối giữa việc thực hiện tự chủ và đổi mới trong quản trị đại học tại các cơ sở giáo dục đại học công lập; (3) việc giao quyền tự chủ chưa phản ánh đúng năng lực thực tế của các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Dựa trên những vấn 3 đề này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp như: (1) hoàn thiện hệ thống chính sách về tự chủ đại học; (2) tổng kết và đánh giá thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ giáo dục đại học, cùng với việc nghiên cứu xây dựng mô hình tự chủ đại học phù hợp với điều kiện Việt Nam; (3) đầu tư vào cơ sở vật chất và điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo; (4) tăng cường kiểm định chất lượng giáo dục; (5) thúc đẩy quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả quản trị đại học [18]. Nguyễn Thị Hương trong bài viết “Giải pháp đẩy mạnh tự chủ tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội” đã tập trung đánh giá ba khía cạnh chính, bao gồm: (1) việc thực hiện quản lý tài chính theo cơ chế Tự chủ Tài chính (TCTC) ở ba cấp quản lý khác nhau; (2) quản lý ngân sách liên kết một cách chi tiết với các yêu cầu về sản phẩm đầu ra; (3) phân bổ ngân sách dựa trên nhiệm vụ và khối lượng công việc, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường TCTC tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Các giải pháp chủ yếu tập trung vào: (i) Phân bổ nguồn lực dựa trên kết quả đầu ra: Đề xuất việc phân bổ nguồn lực tài chính dựa trên hiệu suất và kết quả đầu ra của các đơn vị trong trường, nhằm khuyến khích sự hiệu quả và đổi mới. (ii) Áp dụng hình thức nhà nước đặt hàng đối với các ngành khoa học cơ bản: Thực hiện hình thức nhà nước đặt hàng để tăng cường sự quản lý và định hình các ngành khoa học cơ bản theo hướng có lợi ích lâu dài cho xã hội.
(iii) Thực hiện tăng học phí đối với ngành có xã hội hóa cao: Đề xuất việc tăng học phí đối với các ngành đào tạo có mức độ xã hội hóa cao, nhằm tạo nguồn lực tài chính tự chủ và nâng cao chất lượng giáo dục. (iv) Phân cấp mạnh công tác quản lý tài chính cho các trường thành viên: Đề xuất việc tăng cường phân cấp trong quản lý tài chính để giúp các trường thành viên có thêm trách nhiệm và quyền lực trong việc quản lý nguồn lực tài chính của mình. Bằng cách này, tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy cơ chế Tự chủ Tài chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội [19] 4 Trong bài viết “Tự chủ tài chính tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân” Đặng Thị Lệ Xuân đã đề cập đến các khía cạnh của cơ chế Tự chủ Tài chính (TCTC), tập trung vào (1) chính sách học phí; (2) thu sự nghiệp; (3) chính sách miễn giảm học phí và học bổng; (4) đầu tư mua sắm. Tác giả đã đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính cho đại học tự chủ, bao gồm: (i) Phát triển tín dụng cho sinh viên: Đề xuất triển khai các chính sách tín dụng để hỗ trợ sinh viên trong việc chi trả học phí và các chi phí sinh hoạt khác.
(ii) Miễn thuế đối với phần doanh thu tài trợ cho trường: Đề xuất áp dụng chính sách miễn thuế đối với các khoản doanh thu được tài trợ cho trường, nhằm tăng nguồn thu nhập tự chủ. (iii) Chính sách tài trợ cho NCKH và đầu tư cơ sở vật chất: Đề xuất xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính cho các dự án Nghiên cứu Khoa học và phát triển cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu. (iv) Cho phép tăng học phí từng bước: Đề xuất cho phép các trường tăng học phí từng bước để đối mặt và bù đắp chi phí tăng lên trong quá trình đảm bảo chất lượng giáo dục. Những đề xuất này được hình thành để cải thiện cơ chế tài chính của Đại học Kinh tế Quốc dân và đồng thời tạo ra nguồn lực ổn định hơn để phục vụ mục tiêu tự chủ tài chính của trường [35] Luận văn thạc sỹ có tiêu đề “Quản lý tài chính tại Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng” của Nguyễn Thị Kim Anh (2012) đã trình bày chi tiết về quá trình quản lý tài chính tại trường.
Nghiên cứu của tác giả đã đặc biệt tập trung vào việc phân tích thực trạng quản lý tài chính của Trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quá trình quản lý tài chính của đơn vị. Nội dung của luận văn tập trung vào việc mô tả hiện trạng quản lý tài chính của trường, phân tích các thách thức và vấn đề mà đơn vị đang phải đối mặt trong quá trình quản lý nguồn lực tài chính. Tác giả cũng đã đề xuất những giải pháp cụ thể và khả thi để cải 5 thiện quá trình này, nhằm tăng cường hiệu suất và bền vững trong quản lý tài chính của trường Cao đẳng Lương thực thực phẩm Đà Nẵng [1] thiện và hoàn thiện việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường.