CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Năng lực tự chủ tài chính và năng lực tự chủ tài chính của trường Đại học công lập 1. Khái niệm về năng lực tự chủ tài chính Để làm rõ năng lực tự chủ tài chính, trước hết làm rõ các khái niệm năng lực, tự chủ tài chính và năng lực tự chủ tài chính. Năng lực : Năng lực là tổ chức các thuộc tính tâm lý độc đáo của phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó nhanh chóng đạt kết quả.
Năng lực hình thành và bộc lộ trong hoạt động gắn với một hoạt động cụ thể và chịu sự chi phối của môi trường, tính chất hoạt động và khả năng. Tự chủ tài chính: Là quyền tự tổ chức, phân phối và sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự tổ chức, phân phối, sử dụng nguần tài chính đó. Năng lực tự chủ tài chính là: Khả năng tự tổ chức, phân phối và sử dụng nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Cụ thể được thể hiện qua: • Tự chủ về thu, nguồn thu của đơn vị gồm nguồn kinh phí do NSNN cấp, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn viện trợ, quà biếu, quà tặng, cho và các nguồn khác.
Đơn vị được tự chủ các khoản thu và mức thu theo quy dịnh. • Tự chủ về chi, đơn vị có quyền chi tiêu, phân phối và sử dụng nguồn tài chính. Các đơn vị sự nghiệp có thể căn cứ vào tình hình thực tế của mình mà linh hoạt điều chỉnh các khoản chi, tiết kiệm các khoản chi không cần thiết hoặc tăng chi cho các vấn đề trọng yếu, cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Nội dung chi gồm: chi cho hoạt động thường xuyên và không thường xuyên.
• Tự chủ về phân phối chênh lệch thu chi và sử dụng các quỹ : Căn cứ vào chênh lệch thu chi cuối năm các đơn vị sẽ phải trích tối thiểu 25% quỹ phát 2 triển và hoạt động sự nghiệp, trả thu nhập tăng them cho người lao động và trích lập các quỹ. Khái niệm năng lực tự chủ tài chính của các Trường Đại học công lập Tự chủ là nói đến trạng thái chất lượng của một đối tượng, một đơn vị như Nhà nước, chính quyền địa phương, một tổ chức hoặc doanh nghiệp. Theo Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ xuất bản năm 2010 giải nghĩa “tự chủ” là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc tổ chức không bị cá nhân, tổ chức khác chi phối. Khi áp dụng vào trường Đại học nó cụ thể hóa sự độc lập của một trường trên 3 mặt là: Thứ nhất, khía cạnh tổ chức, tài chính, mối quan hệ của trường với các tổ chức khác.
Thứ hai, đề cập đến khía cạnh tự do cá nhân. Nó chú ý đến khía cạnh cá nhân được bảo vệ không bị ảnh hưởng bới bên ngoài, đặc biệt là sức ép từ chính khách hàng của đơn vị. Nhóm này gắn với quyền tự do học thuật của giảng viên, các nhà nghiên cứu. Thứ ba, liên quan đến tự do điều hành các hoạt động của nhà trường.
Nhóm này tập trung vào quá trình vận hành nhà trường. Có nghĩa là nhà trường được thực hiện chức năng mà không phụ thuộc vào ai. Tự chủ đại học là một khái niệm phức tạp và đa chiều. Các nhà nghiên cứu có cách trình bày khác nhau về phạm vi quyền tự chủ của một trường đại học.
Nó hay được trình bày chi tiết dưới dạng bảng kê danh mục các thẩm quyền cần có đối với một trường đại học gồm 2 loại. Một là, quyền tự chủ thực chất, nó nói đến quyền tự do của các trường đại học trong việc xác định các mục tiêu và các chương trình thực hiện, điều này nói đến quyền “tự chủ” cái gì, nó liên quan đến sứ mạng, các chương trình, chương trình giảng dạy của trường đại học; Hai là, quyền tự chủ thủ tục, nó nói đến việc các trường đại học có quyền xác định các phương tiện cần thiết để hoàn thành các mục tiêu hay chương trình, hay nó nói đến các mục tiêu, chương trình này được thực hiện như thế nào. Các yếu tố về quyền tự chủ được các nhà nghiên cứu nêu ra tạo ra khung 3 khái niệm tự chủ ở cấp độ cơ sở giáo dục đại học. Điều dễ nhận thấy, bản chất của tự chủ là phân chia quyền lực từ nhà nước đến các cơ sở giáo dục đại học.
Phạm vi quyền tự chủ thay đổi theo thời gian nhưng nó đều gắn với lĩnh vực học thuật, quản trị điều hành, pháp luật và vấn đề tài chính. Các phân tích cho thấy tự chủ tài chính là một yếu tố, một thẩm quyền của tự chủ đại học. Nó là một khái niệm được sử dụng khi đồng thời quan tâm đến cả vấn đề tài chính và quyền tự chủ. Trong đó vấn đề tài chính là những vấn đề có liên quan đến tài chính hay những vấn đề tiền bạc.
Nó được mô tả bao gồm: các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, việc lập kế hoạch chiến lược, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của trường đại học. Vì vậy, có thể nói tự chủ tài chính có mối quan hệ đến các nguồn lực, các chi phí, sự phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính. Hiện nay các nghiên cứu đưa ra hai quan điểm về TCTC trường đại học như sau: Một là, quan điểm nguồn lực cho rằng quyền TCTC của trường đại học gắn liền với nguồn lực. Điều này dẫn tới i) quyền tự chủ trong việc giành được và phân bổ các nguồn lực tiền tệ; ii) quyền tự chủ trong việc giành được và phân bổ các nguồn lực tiền tệ và phi tiền tệ.
Hai là, quan điểm chủ thể cho rằng TCTC của trường đại học phải gắn liền với chủ thể, bao gồm: chủ thể pháp lý, chủ thể trong quản trị nội bộ và chủ thể kinh tế. Quan điểm chủ thể nhấn mạnh tới sự hiểu biết như thế nào là đề cao, như thế nào là thu hẹp quyền TCTC. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay nên hiểu TCTC là tính đến cả yếu tố nguồn lực và chủ thể. Bởi vì nếu ứng dụng hai quan điểm một cách riêng biệt thì quyền TCTC có thể bị thu hẹp nhiều mặt.
Sự cần thiết của việc tự chủ tài chính của các Trường Đại học công lập. Sau hơn 8 năm thực hiện Nghị định 43 cho thấy, việc mở rộng trao quyền tự chủ cho đơn vị sự nghiệp công lập đã góp phần nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ công; tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội được lựa chọn, tiếp cận với các dịch vụ có chất lượng ngày càng cao; thu nhập của người lao động từng bước được cải thiện. 4 Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập cũng là đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do nhà nước thành lập gắn liền với chức năng cung ứng dịch vụ giáo dục đào tạo cho xã hội và được nhà nước cấp phát kinh phí hoạt động. Hiện nay ta có thể thấy một thực tế các trường đại học công lập thu hút số lượng sinh viên đông đảo hơn rất nhiều so với các trường dân lập mặc dù chưa khẳng định được chất lượng giáo dục ở đâu tốt hơn.
Bao cấp luôn khiến con người thụ động vì vậy càng sớm càng tốt Nhà nước nên trao quyền tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính cho các trường đại học điều này sẽ khuyến khích các trường chủ động khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn lực được giao nhằm đa dạng hóa các hoạt động đào tạo, phát triển cả số lượng và chất lượng dịch vụ giáo dục đại học. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học và cao đẳng là do ngân sách nhà nước cấp. Nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì nguồn tài chính huy động không chỉ có nguồn ngân sách nhà nước cấp mà còn huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, trong điều kiện ngày nay, nguồn thu ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học, cao đẳng có tăng lên song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tài chính để duy trì và phát triển các hoạt động giáo dục đào tạo.
Mặt khác, xuất phát từ thực trạng tiền lương và chính sách tiền lương hiện nay. Tiền lương còn mang tính bình quân, không có sự phân biệt giữa tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức giữa khu vực cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp, mức lương còn thấp chưa đảm bảo đúng nghĩa của tiền lương nên không thúc đẩy kích thích tính tích cực, sáng tạo của cán bộ, công chức, làm cho chất lượng công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đảm bảo. Bên cạnh đó chưa xây dựng được thang lương, ngạch lương cho những cán bộ công chức có trình độ học hàm cao sau đại học, do vậy chưa khuyến khích được lực lượng cán bộ, công chức, viên chức học tập, nâng cao trình độ có thái độ tích cực, nhiệt huyết trong công tác. Đây cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng chảy máu chất xám trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian 5 vừa qua là rất lớn và đáng báo động.
Vì thế, việc thực hiện tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục – đào tạo công lập là hết sức cần thiết. Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị đã giúp các đơn vị chủ động thu hút, khai thác, tạo lập nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính ngân sách Nhà nước, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu. Giao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị tác động tích cực tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí và thực hành tiết kiệm tránh lãng phí.