phần mở đầu, phần kết luận, danh mục chữ cái viết tắt, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực Hải quan. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Đồng Nai. 6 Chƣơng 3: Các biện pháp nhằm tăng cƣờng hoạt động chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Đồng Nai. Ý NGHĨA VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Về mặt lý luận: Tác giả đã trình bày tổng quan có chọn lọc những cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác phòng chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan.
Luận văn cũng mở ra một hƣớng nhìn vừa khái quát nhƣng đồng thời cũng chi tiết, cụ thể về hoạt động chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại. Nội dung cơ sở lý lận đƣợc viết bằng cả quá trình nghiên cứu với tƣ duy tổng hợp, phân tích và đánh giá có chiều sâu, góp phần vào sự nghiên cứu lý luận chung về nghiệp vụ phòng chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan. - Về mặt thực tiễn: Tác giả đã nghiên cứu và phân tích, làm rõ thực trạng hoạt động phòng chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Đồng Nai trong những năm gần đây. Từ đó kết hợp với những cơ sở lý luận và điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị để đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại cho Cục Hải quan Đồng Nai.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƢƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN 1. Cơ sở lý luận về buôn lậu và gian lận thƣơng mại 1. Khái niệm về buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan. Khái niệm về buôn lậu và gian lận thương mại nói chung Hiện nay, khái niệm về buôn lậu và gian lận thƣơng mại chƣa đƣợc định nghĩa một cách cụ thể trong các văn bản pháp luật của Việt Nam.
Tuy nhiên, thuật ngữ buôn lậu và gian lận thƣơng mại đƣợc sử dụng một cách phổ biến trong các văn bản pháp lý ở các cơ quan quản lý Nhà nƣớc. Gian lận thƣơng mại theo Từ điển tiếng Việt là "dối trá, lừa lọc" trong hoạt động thƣơng mại. Ngƣời có hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại gọi là "gian thƣơng" tức là "ngƣời có nhiều mƣu mô lừa lọc", "kẻ buôn bán gian lận và trái phép". Gian lận đƣợc coi là hành vi của con ngƣời cụ thể có lời nói hoặc cử chỉ, hành động không đúng với bản chất của sự vật hiện tƣợng nhằm mục đích đánh lừa ngƣời khác.
Trong dân gian buôn lậu và gian lận thƣơng mại gắn liền với thành ngữ "buôn gian, bán lận" và dùng để chỉ những thủ đoạn mánh khóe lừa lọc khách hàng hoặc ngƣời khác để thu lời bất chính. Hành vi "buôn gian, bán lận" trong dân gian đƣợc hiểu bao gồm một số thủ đoạn đơn giản nhƣ: hàng xấu nói tốt, ít nói nhiều, rẻ nói đắt, cân đo điêu, buôn bán hàng cấm, lén lút, giấu giếm, lậu thuế…Hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại trƣớc hết phải là hành vi gian lận đƣợc thể hiện trong lĩnh vực thƣơng mại. Chủ thể của hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại là các chủ hàng, có thể là ngƣời mua hoặc ngƣời bán, cũng có khi là cả ngƣời mua và ngƣời bán. Mục đích của hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại là nhằm thu lợi bất chính từ việc thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá.
Tóm lại có thể hiểu: "buôn lậu và gian lận thương mại là hành vi dối trá, mánh khóe, lừa lọc trong lĩnh vực thương mại thông qua hoạt động mua, bán, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi bất chính". Khái niệm về buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan Khác với buôn lậu và gian lận thƣơng mại nói chung, buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực Hải quan là những hành vi gian lận nhằm trốn tránh việc kiểm soát của cơ quan Hải quan để trốn thuế xuất nhập khẩu. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về chống buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực Hải quan do WCO triệu tập tại Brussels, Bỉ ngày 9/10/1995 đã thống nhất đƣa ra một định nghĩa mới nhƣ sau: "buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp qui hoặc pháp luật Hải quan nhằm trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh nộp thuế Hải quan, phí và các khoản thu khác đối với việc di chuyển hàng hóa thương mại hoặc nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó hoặc đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục cạnh tranh thương mại chân chính".[29] Một định nghĩa khác của tổ chức Hải quan thế giới WCO cho rằng: "Gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan là hành vi vi phạm pháp luật Hải quan, lừa dối Hải quan để lẩn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất, nhập khẩu, vi phạm các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy định, để thu được khoản lợi nào đó trong việc vi phạm này".[29] Nói một cách dễ hiểu, buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật hải quan; các đơn vị, tổ chức kinh doanh vi phạm nhằm: - Trốn tránh hoặc cố ý trốn tránh việc nộp thuế hải quan, phí và các khoản khu khác đối với việc di chuyển hàng hoá thƣơng mại và/hoặc: - Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cấp hoặc phụ cấp cho hàng hoá không thuộc đối tƣợng đó và/hoặc: - Đạt đƣợc hoặc cố ý đạt đƣợc lợi thế thƣơng mại bất hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thƣơng mại chân chính.2 Phân biệt buôn lậu và gian lận thương mại Thuật ngữ “buôn lậu” đƣợc sử dụng với những ý nghĩa rất khác nhau. Từ góc độ của khoa học về ngôn ngữ, cụm từ "buôn lậu" có ý nghĩa là buôn bán những hàng 9 hóa trốn thuế và hàng cấm.
Đây là một khái niệm kế thừa những hiểu biết xƣa nay của cụm từ này và khá phù hợp với quan niệm phổ thông hiện nay. Theo tài liệu của Tổ chức Hải quan thế giới dành cho các điều tra viên về buôn lậu và gian lận thƣơng mại thì hành vi buôn lậu đƣợc khái niệm nhƣ sau: “Buôn lậu là hành vi đưa hàng hóa vào trong lãnh thổ một quốc gia hay đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ đó mà vi phạm pháp luật hay các quy định hiện hành của quốc gia đó, trốn tránh hay có ý định trốn tránh nộp thuế Hải quan bằng cách không khai báo hoặc trốn tránh không chịu sự kiểm tra của cơ quan chức năng”.[27] Theo pháp luật Việt Nam, từ năm 1985, Bộ luật hình sự ra đời (27/06/1985) đã chính thức ghi nhận tội danh buôn lậu. Điều 97 của Bộ luật hình sự tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới đƣợc quy định: "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm…". Bắt đầu từ đây, tội danh buôn lậu đã đƣợc xác định với bốn yếu tố cấu thành tội phạm (mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ thể, mặt chủ quan) và những dấu hiệu pháp lý đặc trƣng.
Nhƣ vậy, buôn lậu và gian lận thƣơng mại dù không phải là một tội danh trong Bộ luật hình sự, nhƣng các dấu hiệu đặc trƣng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu và buôn lậu cũng bao gồm buôn lậu và gian lận thƣơng mại. Tác động tiêu cực của buôn lậu và gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan Buôn lậu và gian lận thƣơng mại trong lĩnh vực hải quan dù dƣới hình thức, quy mô nào cũng đã và đang gây nên những tác hại nghiêm trọng đối với một đất nƣớc có chủ quyền về an ninh chính trị, kinh tế xã hội và những lĩnh vực khác. Cụ thể, tác hại của buôn lậu và gian lận thƣơng mại gồm: - Gây thiệt hại nghiêm trọng cho các doanh nghiệp non trẻ, làm ăn chân chính trong nƣớc: Các doanh nghiệp sản xuất, làm ăn chân chính thiếu sự hỗ trợ hiệu quả của Nhà nƣớc, chƣa đƣợc tạo dựng một cơ chế và môi trƣờng thuận lợi cho sự phát triển sản xuất, kinh doanh của họ. Việc tồn tại một lƣợng hàng nhập lậu, hàng giá rẻ do buôn lậu và gian lận thƣơng mại, trốn thuế, hàng kém chất lƣợng, 10 hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.đã làm sai lệch thị trƣờng, gây nên hậu quả nghiêm trọng là làm cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính không còn đủ nguồn lực tập trung vào nghiên cứu, phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng năng lực sản xuất, áp dụng công nghệ và tiến bộ khoa học vào sản xuất để phát triển nền kinh tế đất nƣớc.
Bên cạnh đó, buôn lậu và gian lận thƣơng mại làm cho cán cân thƣơng mại bị thâm hụt, nền sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam chƣa thể đảm bảo đƣợc sự cân bằng trong cán cân thƣơng mại. - Nếu không xử lý kịp thời sẽ làm mất lòng tin của nhân dân vào Nhà nƣớc. Những hành vi buôn lậu và gian lận thƣơng mại không bị phát hiện kịp thời, xử lý không nghiêm cộng với sự bất lực của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc làm nảy sinh tâm lý coi thƣờng pháp luật, khủng hoảng lòng tin đối với pháp luật trong nhân dân. Điều đó đã và đang thách thức năng lực quản lý điều hành đất nƣớc thông qua hệ thống pháp luật và các cơ quan chức năng thực thi pháp luật.
Nguồn lợi hấp dẫn từ hoạt động buôn lậu và gian lận thƣơng mại sẽ là yếu tố tác động xấu và phức tạp đến toàn xã hội. Nó là một trong những động cơ có sức lan tỏa, lôi kéo những ngƣời hám lợi trong xã hội cùng tham gia. Vì vậy, nó sẽ gây ra những hậu quả hết sức phức tạp và nghiêm trọng.