CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Lý do chọn đề tài Việc Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào ngày 04/02/2016 đã mở ra cho Việt nam một cơ hội lớn, đồng thời cũng tạo ra một thách thức lớn. Trong xu thế toàn cầu hóa thương mại thế giới, để đáp ứng nhu cầu hội nhập, ngày 23/06/2014 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015. Luật Hải quan 2014 đã đơn giản hóa các quy trình, thủ tục, hồ sơ hải quan theo hướng nhanh, gọn, cắt giảm những bước thủ tục trong thông quan, chú trọng KTSTQ, tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động XNK.
Luật quy định việc khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, ứng dụng triệt để CNTT vào các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; thực hiện chính thức cơ chế một cửa quốc gia và kết nối cơ chế một cửa ASEAN. Do đó, thủ tục hải quan điện tử đã được triển khai tại tất cả các Cục Hải quan trên toàn quốc thông qua Hệ thống VNACCS/VCIS (hệ thống thông quan tự động để thông quan hàng hóa), rút ngắn tối đa qui trình thủ tục trong thông quan theo tiêu chí 90% tờ khai sẽ được thông quan tự động (luồng xanh), 7% tờ khai luồng vàng (chỉ kiểm tra sơ bộ hồ sơ giấy, không yêu cầu xuất trình hàng hóa để kiểm tra) và 3% tờ khai luồng đỏ (yêu cầu xuất trình hồ sơ giấy và hàng hóa để kiểm tra trước khi thông quan). Với cơ chế quản lý vô cùng thông thoáng đó thì hoạt động KTSTQ có vai trò rất quan trọng. Qua KTSTQ, cơ quan hải quan mới đánh giá được mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp làm nguyên liệu đầu vào nhằm phân tích, áp dụng kỹ thuật QLRR, rút ngắn thêm thời gian thông quan.
Đồng thời, qua KTSTQ, cơ quan hải quan mới có thể phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận thương mại, gây thất thu cho NSNN. Chính vì vai trò quan trọng của công tác KTSTQ trong giai đoạn hiện nay nên tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả Công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Đồng Nai” để đóng góp hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan tại đơn vị, nâng cao hiểu 1 biết pháp luật hải quan của Doanh nghiệp xuất nhập khẩu và làm đề tài luận văn cao học của mình. Nghiên cứu liên quan đến đề tài: - Luc De Wulf and Jose B.Sokol, Customs Modernization Initiatives (kinh nghiệm hiện đại hóa hải quan của một số nước) [41]. Tài liệu này nghiên cứu về sáng kiến hiện đại hóa ở 1 số quốc gia đang phát triển gồm: Bolivia, Ghana, Maroc, Mozambic, Peru, Philippin, Thỗ Nhỉ Kỳ và Uganda.
Vấn đề KTSTQ được tài liệu tiếp cận là một trong những nội dung của biện pháp cải cách khi đề cập đến những thay đổi trong quản lý, liêm chính và tham nhũng, công nghệ thông tin, công nghệ thông tin, phương pháp lựa chọn trong kiểm soát trước và sau khi giải phóng hàng. Nội dung vấn đề mang tính tổng quát nhưng cho thấy KTSTQ là yếu tố tất yếu của hiện đại hóa hải quan và quản lý hải quan hiện đại. - Nobuyuki Shokai, Asean customs post clearance audit manual (Hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan của Asean) [42]. Bản hướng dẫn này được kết cấu thành nhiều phần.
Phần I về thực hiện chương trình KTSTQ nêu các quá trình cụ thể để thực hiện kiểm toán hải quan. Theo tác giả để thực hiện sau thông quan một cách hiệu quả, các yêu cầu pháp lý cần đặt ra trong luật định đó là: hệ thống tổ chức, nghĩa vụ của cán bộ kiểm tra sau thông quan, phạm vi của kiểm tra sau thông quan, nghĩa vụ của người/công ty được kiểm toán, các trường hợp hình sự, các trường hợp kháng cáo…. Hướng dẫn này thể hiện yêu cầu chung về KTSTQ (kiểm toán hải quan) đối với các nước thành viên ASEAN, trở thành một nền tảng tất yếu về cơ sở pháp lý theo chuẩn mực quốc tế để hoàn thiện pháp luật về KTSTQ tại Việt Nam. - Nobuyuki Shokai, The Blueprint of Asean customs post clearance audit (Kế hoạch chi tiết kiểm tra sau thông quan của Hải quan Asean) [43].
Kế hoạch này được xây dựng trên chương trình hành động của một số quốc gia như Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei Darussalam. Mỗi chương trình hành đông riêng của các quốc gia được coi là phần không tách rời của kế hoạch KTSTQ của Hải quan Asean để đạt được kế hoạch chiến lược Asean về phát triển hải quan 2 và kiểm toán hải quan. Các chương trình của mỗi quốc gia cơ bản đều gồm 2 phần: 1, Hiện trạng: Những phân tích về tình hình thực hiện của KTSTQ, dựa trên việc xem xét sâu sắc cơ chế hải quan và các yếu tố đầu vào có sẵn.2, Hành động và mục tiêu, biện pháp để đạt được các yêu cầu theo quy định.Qua việc phân tích hệ thống hiện trạng PCA của Indonesia (triển khai từ năm 1996), Malaysia (2000), Singapore (1998), và Brunei Dasussalam (2003), tác giả đưa ra những biện pháp mục tiêu theo lộ trình xác định cụ thể về thời gian để các nước tăng cường pháp luật hiện hành, các vấn đề về cơ cấu tổ chức và hoạt động của KTSTQ, tiêu chuẩn đạo đức, cơ chế thực hiện, giám sát và đánh giá trong quá trình thực hiện KTSTQ. Những nội dung này có giá trị tham khảo rất lớn trong quá trình nghiên cứu KTSTQ theo chuẩn mực quốc tế cũng như kinh nghiệm của các nước trong xây dựng và triển khai pháp luật về KTSTQ.
- World Customs Organization (2012), Guidelines for Post Clearance Audit (Hướng dẫn về Kiểm tra sau thông quan của WCO) [46]. Tài liệu hướng dẫn này phản ánh một cách tiếp cận mới về KTSTQ trên cơ sở đánh giá toàn diện và cập nhật hướng dẫn trước đó được phát triển vào năm 2006. Nó nhấn mạnh ngày càng tăng nhu cầu thành viên để tạo điều kiện cho thương mại hợp pháp. KTSTQ được đề cập trong một bối cảnh thương mại rộng lớn hơn, các thành viên được hướng tới cách tiếp cận về KTSTQ được phát triển từ kinh nghiệm các thành viên khác và phù hợp với các kỹ thuật hải quan hiện đại.
Hướng dẫn này được trình bày trong 2 phần. Phần 1 tập trung ở cấp độ quản lý nhằm hỗ trợ xây dựng và quản lý chương trình KTSTQ (dành cho mọi đối tượng quan tâm). Phần 2 tập trung vào khái cạnh thực thi KTSTQ với hướng dẫn thực tế cho cán bộ kiểm tra (chỉ dành cho cán bộ hải quan). Thông tin thêm về các chủ đề kỹ thuật liên quan đến kiểm tra hải quan (ví dụ: trị giá hải quan, phân loại và xuất xứ) có trong tài liệu hướng dẫn khác do WCO xây dựng.
Theo tài liệu này thì chuyển đổi phương pháp quản lý hải quan từ tiền kiểm sang hậu kiểm là nền tảng cơ sở cho kiểm soát hải quan trong những năm gần đây. Thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro và sau thông quan, Hải quan có thể xác định nguồn lực hiện quả hơn và phối hợp cộng 3 đồng daonh nghiệp tăng cường mức độ tuân thủ và tạo thuận lợi. Hiệu quả của Công tác kiểm tra sau thông quan thì mục tiêu cuối cùng của Công tác này là nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của các Doanh nghiệp tham gia các hoạt động XNK, về vấn đề này thì các nhà khoa học và các học giả dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau đưa ra những nhận định và quan điểm khác nhau về sự tuân thủ pháp luật về thuế theo cách tiếp cận và cách nhìn của họ. Kể từ khi Allingham & Sandmo nghiên cứu mô hình trốn thuế năm 1972 ông đã đưa ra nhiều yếu tố dẫn đến việc không tuân thủ bao gồm môi trường kinh tế, chính sách quản lý, phạt thuế… thì đã có thêm nhiều đề tài nghiên cứu về các yếu tố tác động đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Theo Richard Goode khi nghiên cứu về tính tuân thủ thuế thu nhập và các biện pháp chế tài ở các nước đang phát triển thì ông đưa ra mô hình gồm 6 nhân tố: (1) Nền kinh tế tiền tệ; (2) Trình độ học vấn của cư dân; (3) Tiêu chuẩn kế toán minh bạch và đáng tin cậy; (4) Người nộp thuế phải có tính tự nguyện cao; (5) Hệ thống chính trị không bị chi phối bởi những người giàu và hành động vì lợi ích riêng; (6) Cơ chế quản lý hợp lý, trung thực và hiệu quả. Tuy nhiên, chỉ một số nhân tố có liên quan trực tiếp đến sự tuân thủ thuế còn lại là các nhân tố ràng buộc chặt chẽ với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước. Sarker nhân viên thuế ở Bangladesh khi nghiên cứu về “Cải thiện sự tuân thủ thuế ở các nước đang phát triển qua hệ thống tự đánh giá - Bangladesh học được gì từ Nhật Bản” năm 2003 [50] thì mô hình đo lường sự tuân thủ thuế gồm 04 yếu tố: (1) Quan hệ công chúng; (2) Giáo dục thuế; (3) Hỗ trợ tư vấn thuế; (4) Hướng dẫn và kiểm tra. Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích tính tuân thủ thuế trên phương diện lý thuyết qua phỏng vấn các chuyên gia đầu ngành và từ cơ quan quản lý thuế tuy nhiên vẫn chưa đo lường những mức độ tác động của từng yếu tố đối với sự tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Rothengatter đã thực hiện nghiên cứu“Mạng xã hội và việc không tuân thủ thuế ở một quốc gia đa văn hóa” được đăng trên tạp 4 chí Emeralinsight. Tác giả đã nhận thấy vai trò cấu trúc khác nhau của các mạng xã hội có ảnh hưởng đến việc không tuân thủ hoặc trốn thuế, và tác giả cũng chỉ ra những khó khăn mà các nhà quản lý thuế có thể gặp phải trong nỗ lực đối phó với một loạt các hành động bất chấp pháp luật, hoạt động cả trong và giữa một số mạng lưới giao dịch đa dạng về mặt cấu trúc của một quốc gia đa văn hóa. Việc một Doanh nghiệp tuân thủ hay không tuân thủ nó thể hiện qua kết quả hay hiệu quả của Công tác KTSTQ.