Tổng quan nghiên cứu

Cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải giữ vị trí yết hầu trong hệ thống giao thương hàng hải quốc tế của khu vực phía Nam, tiếp nhận nhiều tàu mẹ vận chuyển hàng hóa trực tiếp đi châu Mỹ và châu Âu. Năm 2020, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép đã tổ chức giám sát 964.606 container nhập khẩu và 1.458.700 container xuất khẩu, đồng thời thực hiện quản lý địa bàn gắn liền với 1.246 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp phụ cận như Khu công nghiệp Phú Mỹ 3. Lưu lượng hàng hóa luân chuyển khổng lồ đã kéo theo nguy cơ buôn lậu và gian lận thương mại diễn biến hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây thất thu ngân sách và ảnh hưởng an ninh kinh tế.

Trong giai đoạn 2018 - 2020, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép đã phát hiện và xử lý 588 vụ vi phạm pháp luật hải quan, tịch thu nhiều tang vật có giá trị cao từ các vụ buôn lậu xe ô tô, ma túy đến tình trạng gian lận phân loại mã số hàng hóa, xuất xứ và trốn thuế nhập khẩu phế liệu. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhận diện, đo lường các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến công tác phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại tại đơn vị; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả kiểm soát. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa bàn quản lý dọc hạ lưu sông Thị Vải, khu trung chuyển Gò Da và 06 hệ thống kho ngoại quan trọng điểm trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tỷ lệ phát hiện vi phạm qua công tác soi chiếu, tối ưu hóa thời gian giải phóng hàng hóa cho hơn 1.600 lượt tàu xuất nhập cảnh mỗi năm và tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật hải quan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên lý thuyết quản lý nhà nước về hải quan và mô hình quản trị rủi ro hải quan theo chuẩn mực của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) và Công ước Kyoto sửa đổi. Khung lý thuyết tập trung giải quyết bài toán cân bằng giữa yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và nhiệm vụ kiểm soát, phòng chống buôn lậu thông qua việc chuyển dịch từ phương thức tiền kiểm sang hậu kiểm trên nền tảng hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS.

Về mặt pháp lý và khái niệm, nghiên cứu dựa trên các căn cứ:

  • Tội buôn lậu theo quy định tại Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xác định cấu thành tội phạm khi có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý vi phạm hành chính.
  • Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới theo Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các hướng dẫn nhận diện hành vi gian lận thương mại tại Thông tư số 93/2010/TT-BTC, Nghị định số 67/2017/NĐ-CP cùng Kế hoạch số 11/KH-BCĐ 389 quốc gia.
  • Hệ thống 09 biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan được quy định tại Quyết định số 1399/QĐ-BTC ngày 20/6/2016 của Bộ Tài chính, bao gồm tuần tra hải quan, điều tra nắm tình hình, sưu tra đối tượng, xây dựng cơ sở bí mật và lập chuyên án đấu tranh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

  • Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát với cỡ mẫu gồm 62 cán bộ, công chức đang trực tiếp công tác tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép. Phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những cán bộ có thâm niên từ 05 năm trở lên, am hiểu sâu sắc về nghiệp vụ kiểm soát rủi ro, giám sát tàu biển và xử lý vi phạm hành chính.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tổng kết giai đoạn 2018 - 2020 của Chi cục với 588 hồ sơ vụ việc xử lý, số liệu giám sát hơn 9.900 lượt tàu thuyền xuất nhập cảnh và cơ cấu luân chuyển hàng hóa cảng biển. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý).
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả và đánh giá giá trị trung bình trên thang đo Likert cho phép lượng hóa chính xác nhận định của cán bộ về các yếu tố nội bộ như tổ chức bộ máy, năng lực đào tạo, mức độ ứng dụng trang thiết bị và tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm, từ đó chỉ ra những điểm nghẽn mang tính định lượng trong công tác quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diễn biến số vụ vi phạm qua các năm phản ánh tính chất phức tạp của địa bàn cảng biển nước sâu. Năm 2018, đơn vị xử lý 139 vụ vi phạm, nổi bật là khởi tố 01 vụ án hình sự buôn lậu 05 xe ô tô trị giá khoảng 3,5 tỷ đồng và phối hợp triệt phá 01 vụ vận chuyển trái phép 100 bánh cocain. Sang năm 2019, số vụ vi phạm tăng vọt lên 285 vụ (tăng 99,27% so với năm 2018), trong đó có 272 vụ vi phạm hành chính do vướng mắc quy định thủ tục nhập khẩu phế liệu khiến doanh nghiệp chậm mở tờ khai quá thời hạn 30 ngày. Đến năm 2020, tổng số vụ giảm 40,15% xuống còn 164 vụ, nhưng phương thức gian lận chuyển hướng sang các kho ngoại quan với 01 vụ buôn lậu thuốc lá tại kho Poseidon (phạt 60 triệu đồng) và 02 vụ khai sai 19 container rượu tại kho bãi Tân Cảng Cái Mép (phạt 15 triệu đồng và buộc tái xuất).

Thứ hai, kết quả khảo sát 62 cán bộ hải quan chỉ ra sự phân hóa rõ rệt giữa các tiêu chí nghiệp vụ. Tiêu chí kiểm soát trọng điểm đạt điểm đánh giá cao nhất với 4,02/5 điểm; công tác tổ chức bộ máy và phân công nhiệm vụ đạt mức khá với 3,61/5 điểm; việc tuân thủ quy trình kiểm soát đạt 3,34/5 điểm; bố trí nguồn lực đạt 3,26/5 điểm. Điều này cho thấy đơn vị đã phát huy tốt khả năng phản ứng nhanh khi có thông tin chỉ điểm và phân định rõ trách nhiệm của các đội nghiệp vụ.

Thứ ba, nghiên cứu nhận diện các điểm hạn chế nghiêm trọng trong công tác quản trị nội bộ. Tiêu chí kiểm soát chuyên án bị đánh giá thấp nhất với chỉ 2,54/5 điểm, trong đó có 53,2% cán bộ cho rằng hoạt động này chưa thực sự hiệu quả. Tiêu chí xử phạt nghiêm minh cán bộ vi phạm chỉ đạt 2,09/5 điểm do tâm lý e ngại, nể nang và bao che; công tác khen thưởng kịp thời chỉ đạt 2,41/5 điểm; công tác tập huấn nghiệp vụ đạt 2,87/5 điểm; hoạt động phối hợp liên ngành chỉ đạt 3,02/5 điểm.

Thứ tư, về cơ cấu nhân lực, tổng số cán bộ của đơn vị tăng từ 56 người năm 2018 lên 69 người năm 2020. Đội ngũ có chất lượng học vấn cao với 18 Thạc sĩ (chiếm 26,08%) và 48 Cử nhân (chiếm 69,57%), độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi chiếm đa số với 55 người. Tuy nhiên, quy định luân chuyển cán bộ sau 3 đến 5 năm gây khó khăn cho việc duy trì mạng lưới trinh sát bí mật và tích lũy kinh nghiệm chuyên sâu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng buôn lậu tại Cái Mép bắt nguồn từ sự mất cân đối giữa khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu khổng lồ với điều kiện cơ sở vật chất kiểm soát. Đơn vị phải quản lý 14 nhóm mặt hàng trọng điểm (như phế liệu sắt thép, xăng dầu, hóa chất, khí hóa lỏng) trải dài suốt hạ lưu sông Thị Vải đến khu Gò Da, nhưng lại thiếu ca nô tuần tra đường thủy chuyên dụng và các thiết bị trinh sát ban đêm.

Khi trình bày dữ liệu nghiên cứu, việc sử dụng biểu đồ cột kết hợp đường xu hướng thể hiện rõ nét biến động số vụ vi phạm qua các năm 2018 - 2020, làm nổi bật đỉnh điểm vi phạm hành chính năm 2019. Bên cạnh đó, bảng phân phối tần suất và giá trị trung bình Likert phản ánh trực quan khoảng cách giữa năng lực kiểm soát thông thường (3,34 điểm) và năng lực lập chuyên án bí mật (2,54 điểm). So sánh với các nghiên cứu cùng chuyên ngành tại Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh hay Cục Hải quan Hải Phòng, hạn chế tại Cái Mép mang tính đặc thù của cụm cảng trung chuyển quốc tế, nơi các đối tượng lợi dụng chính sách phân luồng xanh và loại hình vận chuyển độc lập để trà trộn hàng cấm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện quy chế luân chuyển cán bộ. Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cần thành lập Đội kiểm soát trinh sát đường biển chuyên trách tại khu vực Gò Da; đồng thời điều chỉnh thời hạn luân chuyển đối với lực lượng điều tra chống buôn lậu từ mức 3 năm lên 5 đến 7 năm. Mục tiêu đặt ra là tăng tỷ lệ phát hiện các vụ việc qua chuyên án tự lập lên 30% trong giai đoạn 2022 - 2025.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin và trang thiết bị kiểm soát kỹ thuật. Tổng cục Hải quan phối hợp với Chi cục đẩy nhanh tiến độ lắp đặt hệ thống máy soi container cố định công suất cao tại bến cảng Cái Mép Hạ và trang bị 02 ca nô tuần tra cao tốc chuyên dụng. Thời gian triển khai hoàn thành trước quý IV năm 2024 nhằm đảm bảo kiểm soát 100% các tàu có dấu hiệu nghi vấn trên luồng hàng hải Thị Vải.

Thứ ba, nâng cao năng lực chuyên môn và thắt chặt kỷ cương liêm chính công vụ. Chi cục cần định kỳ tổ chức 04 đợt tập huấn chuyên sâu mỗi năm về kỹ thuật nhận diện chứng từ xuất xứ giả mạo, thủ đoạn cất giấu ma túy trong hàng rời và phân tích hình ảnh máy soi. Cục Hải quan tỉnh cần tăng cường kiểm tra nội bộ đột xuất, nâng điểm hài lòng về tính nghiêm minh trong xử lý sai phạm từ 2,09 lên trên 4,00 điểm trước năm 2025.

Thứ tư, đổi mới cơ chế phối hợp liên ngành và đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật. Ký kết quy chế chia sẻ dữ liệu điện tử thời gian thực giữa Hải quan với Công an tỉnh (PC03, PC47), Bộ đội Biên phòng và Cảng vụ Hàng hải. Triển khai kênh tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm 24/7 đối với 1.246 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, phấn đấu giảm 50% thời gian xác minh tin báo vi phạm trong giai đoạn 2023 - 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo và công chức ngành Hải quan: Nghiên cứu cung cấp tài liệu thực tiễn sâu sắc để các Chi cục Hải quan cảng biển hoàn thiện quy trình kiểm soát rủi ro, phân bổ chỉ tiêu tuần tra và xây dựng phương án đấu tranh chuyên án hiệu quả.
  • Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics và khai thác cảng: Giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nắm vững các lỗi vi phạm thường gặp về khai báo mã HS, định mức gia công và thời hạn làm thủ tục, từ đó nâng cao tính tuân thủ pháp luật và giảm thiểu rủi ro bị xử phạt hành chính.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước liên ngành: Bộ đội Biên phòng, Công an kinh tế và Quản lý thị trường có thể tham khảo mô hình phối hợp trao đổi thông tin nghiệp vụ và quy trình chia sẻ tài liệu phục vụ công tác khởi tố các vụ án buôn lậu qua biên giới.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp khảo sát định lượng mẫu và hệ thống số liệu thứ cấp có giá trị tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về quản trị công và chuỗi cung ứng hàng hải.

Câu hỏi thường gặp

Các thủ đoạn buôn lậu và gian lận thương mại phổ biến nhất tại Cảng Cái Mép là gì? Các đối tượng thường lợi dụng cơ chế thông thoáng của luồng xanh để khai sai tên hàng, số lượng, mã số thuế suất; gian lận định mức tiêu hao nguyên phụ liệu nhập khẩu gia công; sử dụng chứng nhận xuất xứ giả mạo và khai báo sai tên hàng khi đưa vào kho ngoại quan như các vụ việc vi phạm liên quan đến rượu và thuốc lá lậu.

Tại sao số vụ vi phạm hành chính năm 2019 lại tăng đột biến tới 99,27% so với năm 2018? Nguyên nhân chủ yếu do sự thay đổi của chính sách quản lý nhà nước về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất. Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng kịp các điều kiện về quy chuẩn môi trường hoặc vướng mắc giấy phép, dẫn đến tình trạng hàng hóa cập cảng quá thời hạn 30 ngày mà không thể mở tờ khai hải quan, làm phát sinh 272 vụ xử phạt.

Cơ chế luân chuyển cán bộ định kỳ từ 3 đến 5 năm tác động như thế nào đến công tác kiểm soát? Quy định luân chuyển giúp hạn chế tình trạng tiêu cực, gắn kết lợi ích bất chính giữa công chức và doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc luân chuyển quá nhanh khiến cán bộ khó tích lũy đủ kinh nghiệm trinh sát, làm gián đoạn các chuyên án theo dõi dài hạn và gây khó khăn trong việc xây dựng cơ sở bí mật trên địa bàn.

Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật hiện tại của Chi cục Cái Mép đáp ứng yêu cầu ở mức độ nào? Chi cục đã được trang bị hệ thống máy soi container hiện đại và hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS, được cán bộ đánh giá ở mức 3,26/5 điểm. Tuy nhiên, đơn vị vẫn còn thiếu thốn các phương tiện tuần tra trên sông biển, ống nhòm nhìn đêm và thiết bị chuyên dụng phục vụ việc theo dõi đối tượng trên luồng hàng hải rộng lớn.

Luận văn đưa ra giải pháp nào để giải quyết tình trạng thiếu tin tưởng giữa các lực lượng phối hợp? Tác giả đề xuất xây dựng quy chế phối hợp bằng văn bản có tính ràng buộc pháp lý cao giữa Hải quan, Công an và Biên phòng; thiết lập cơ chế chia sẻ cơ sở dữ liệu chuyên án mật dùng chung; đồng thời quy định rõ trách nhiệm bảo mật thông tin và phân định quyền hạn thụ lý tang vật nhằm tránh chồng chéo khi bắt giữ.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại tại Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Cái Mép giai đoạn 2018 - 2020 với 588 vụ việc được xử lý.
  • Đánh giá định lượng qua khảo sát 62 cán bộ đã chỉ ra điểm mạnh tại khâu kiểm soát trọng điểm (4,02 điểm) và điểm nghẽn lớn trong công tác lập chuyên án điều tra (2,54 điểm) cùng tính nghiêm minh trong xử lý sai phạm nội bộ (2,09 điểm).
  • Xác định rõ các nguyên nhân cốt lõi bao gồm địa bàn sông biển rộng lớn, sự thiếu hụt phương tiện tuần tra đường thủy và bất cập trong cơ chế luân chuyển cán bộ ngắn hạn.
  • Đóng góp hệ thống 04 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về tái cơ cấu bộ máy, đầu tư hạ tầng công nghệ, bồi dưỡng chuyên môn và tăng cường phối hợp liên ngành.
  • Lộ trình triển khai các giải pháp được xác định cụ thể trong giai đoạn 2022 - 2025 nhằm xây dựng lực lượng hải quan Cái Mép chính quy, hiện đại, đảm bảo thông quan thông suốt và giữ vững an ninh kinh tế cửa ngõ biển Đông.