Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội buôn lậu 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội buôn lậu Buôn lậu là một trong các loại tội nguy hiểm, không chỉ làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nƣớc, mà còn ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chính sách kinh tế - xã hội của đất nƣớc, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nƣớc, gây ra những hậu quả to lớn khác về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc. Thuật ngữ buôn lậu đã xuất hiện rất lâu, đƣợc đƣa vào từ điển và có sự thay đổi hoàn thiện phù hợp với thực tiễn cuộc sống.
Buôn lậu là: Buôn bán hàng trốn thuế hoặc hàng quốc cấm hoặc buôn lậu là: Buôn hàng cấm hoặc hàng trốn thuế. Tuy nhiên, tiếp cận một cách đầy đủ hơn theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam thì buôn lậu là: “Hành vi buôn bán trái phép qua biên giới thể hiện dưới các dạng: Buôn bán các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm nhập khẩu, xuất khẩu, nhưng đã tìm mọi cách để trốn thuế, sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ không hợp lệ hoặc trái với quy định về xuất khẩu, nhập khẩu” [6, tr.134]; Bên cạnh đó, tại Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999, bị coi là tội phạm buôn lậu nếu có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới “Hàng hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 trăm triệu đồng trở lên hoặc dƣới 100 triệu đồng nhƣng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này…”. Ngoài ra, tại Điều 188 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tội buôn lậu đƣợc quy định nhƣ sau: “1. Ngƣời nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng đến dƣới 300.000 đồng hoặc dƣới 100.000 đồng nhƣng thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xóa án 6 tích mà còn vi phạm; b) Vật phạm pháp là di vật, cổ vật… 6.
Pháp nhân thƣơng mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt nhƣ sau: a) Thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 200.000 đồng đến dƣới 300.000 đồng; hàng hóa trị giá dƣới 200.000 đồng nhƣng là di vật, cổ vật; hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý trị giá từ 100.000 đồng đến dƣới 200.000 đồng nhƣng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300. Từ những quan niệm trên, có thể thấy điểm đặc trƣng để có thể nhận diện hành vi buôn lậu: Đây chính là hành vi kinh doanh, buôn bán hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý một cách trái pháp luật. Tuy nhiên việc kinh doanh, buôn bán trái phép đó phải có một yếu tố hết sức quan trọng đó là phải qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại trái pháp luật. Từ phân tích nhƣ trên, đồng thời xuất phát từ thực tiễn tình hình khách quan của hoạt động buôn lậu, cũng nhƣ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm buôn lậu ở Việt Nam, có thể đƣa ra khái niệm về tội buôn lậu nhƣ sau: Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc các vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý và phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó.
Dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu: - Khách thể của tội phạm: Khách thể bị xâm phạm của tội buôn lậu là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là các quy định pháp luật của Nhà nƣớc về chính sách xuất, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại; lợi ích chính đáng của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh chính đáng, lợi ích của Nhà nƣớc. Đối tƣợng của tội này rất đa dạng, nhiều chủng loại bao gồm các loại hàng 7 hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý; các vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa. Đối tƣợng có thể thay đổi tùy theo chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà nƣớc trong từng giai đoạn phát triển kinh tế nhất định. - Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội buôn lậu đƣợc thể hiện ở hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại các đối tƣợng nêu trên.
Buôn bán trái phép… là hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại để trao đổi trái với các quy định của Nhà nƣớc về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhƣ: Vận chuyển hàng hóa qua cửa khẩu mà không khai báo hoặc khai báo hàng hóa một cách gian dối, hoặc giấu diếm hàng hóa, tiền tệ, hoặc sử dụng các loại giấy tờ giả mạo để vận chuyển hàng hóa qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại để bán. Hành vi buôn lậu hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý chỉ cấu thành tội phạm khi đối tƣợng buôn lậu có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên hoặc dƣới một trăm triệu đồng nhƣng trƣớc đó ngƣời vi phạm đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc một trong các Điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm; hoặc vật phạm pháp là di vật, cổ vật. Trƣờng hợp nếu hàng hóa là các loại chất ma túy; vũ khí quân dụng và phƣơng tiện kỹ thuật; vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ; chất phóng xạ; chất cháy; chất độc thì sẽ bị xử lý theo những tội danh tƣơng ứng quy định trong BLHS. Tội phạm đƣợc hoàn thành kể từ khi thực hiện hành vi vận chuyển các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ.
qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại. Trƣờng hợp khi hàng hóa từ bên ngoài đã qua biên giới vào nội địa mà bị phát hiện thì vẫn cấu thành tội buôn lậu. Trƣờng hợp hàng hóa, tiền tệ, vật phẩm. đƣa từ trong nƣớc ra nƣớc ngoài thì hành vi vận chuyển hàng hóa đến khu vực kiểm soát Hải quan ở các cửa khẩu, sân bay, bến cảng quốc tế, khu vực biên giới.
là tội buôn lậu đƣợc coi là hoàn thành. Vì nếu vƣợt qua biên giới rồi thì cơ quan chức năng của Việt Nam không còn thẩm quyền bắt giữ. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, 8 nếu hậu quả do hành vi buôn lậu gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì ngƣời phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt có mức cao hơn.
Thiệt hại trực tiếp do hành vi buôn lậu gây ra là Nhà nƣớc không kiểm soát đƣợc hàng hóa xuất, nhập khẩu, gây thất thu thuế nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý; làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, gây rối loạn thị trƣờng. Bên cạnh đó còn làm mất lòng tin của ngƣời dân đối với Nhà nƣớc, đối với lƣợng lực có chức năng phòng, chống buôn lậu. - Chủ thể của tội phạm buôn lậu: Chủ thể của tội phạm buôn lậu là ngƣời từ đủ 16 tuổi (khoản 1, 2) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 3, 4) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Việt Nam. - Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm buôn lậu là hành vi có lỗi cố ý trực tiếp, ngƣời thực hiện tội phạm nhận thức rõ hành vi buôn bán trái phép qua biên giới của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy trƣớc đƣợc hậu quả của hành vi và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra.
Không có hành vi buôn lậu nào đƣợc thực hiện do cố ý gián tiếp. Mục đích của ngƣời phạm tội là thu lợi bất chính, ngƣời phạm tội tìm cách buôn bán trốn thuế xuất, nhập khẩu nhằm kiếm lời. Đây chính là dấu hiệu đặc trƣng cho tội buôn lậu, là căn cứ để phân biệt tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Phòng ngừa tội phạm là vấn đề quan trọng, được sự quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn trong xã hội Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trang 323 Tập 5 - Hồ Chí Minh Toàn tập đã nêu quan điểm rất quan trọng về phòng ngừa tội phạm: "Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ; nếu nhất loạt không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại; vì vậy hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng". Quan điểm này đã được ghi nhận thành các nguyên tắc của Hiến pháp, BLHS và trong khoa học điều tra, phòng ngừa tội phạm của Nhà nước ta. Võ Khánh Vinh thì “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nƣớc, xã hội và Nhà nƣớc - xã hội 9 nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu, hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm” [31, tr.