Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại trên các tuyến đường thủy nội địa và đường biển luôn là thách thức lớn đối với công tác quản lý kinh tế và an ninh quốc gia. Theo thống kê của lực lượng chức năng, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2021, lực lượng Cảnh sát biển đã phát hiện và xử lý 434 vụ với 586 đối tượng vi phạm trên biển, tịch thu tang vật và xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền ước tính gần 40 tỷ đồng. Trong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ và hơn 99,65% doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử, các thủ đoạn buôn lậu ngày càng trở nên tinh vi thông qua việc lợi dụng kẽ hở thông quan, quay vòng hóa đơn và sang mạn trái phép tại các vùng biển xa bờ.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Trần Quang Thanh với đề tài "Giải pháp chống buôn lậu và gian lận thương mại trên tuyến đường sông, đường biển khu vực miền Nam" giải quyết bài toán cấp bách về quản lý rủi ro và nâng cao năng lực thực thi công vụ. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi hoạt động của Hải đội Kiểm soát trên biển khu vực miền Nam (Hải đội 3) trực thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan trong giai đoạn 2019-2021, đồng thời xây dựng phương hướng hành động cho giai đoạn 2022-2025. Mục tiêu trọng tâm là đánh giá thực trạng công tác kiểm soát, nhận diện các điểm nghẽn nghiệp vụ và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện. Đề tài mang lại ý nghĩa sâu sắc trong việc bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh cho doanh nghiệp nội địa và giữ vững trật tự an ninh kinh tế trên vùng biển phía Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận quản lý hải quan hiện đại dựa trên các văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia. Nền tảng pháp lý quốc tế xuất phát từ Công ước Nairobi năm 1977 của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) về trợ giúp hành chính lẫn nhau trong phòng ngừa, điều tra và trấn áp các vi phạm hải quan. Ở cấp độ quốc gia, nghiên cứu căn cứ vào Luật Hải quan năm 2014 và Bộ luật Hình sự năm 2017, trong đó Điều 188 quy định rõ về tội buôn lậu với 4 yếu tố cấu thành tội phạm, kết hợp Điều 189 về tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.

Ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: buôn lậu, gian lận thương mại và kiểm soát hải quan. Về mô hình quản trị, tác giả ứng dụng lý thuyết Quản lý rủi ro trong quản trị công và chuỗi cung ứng, thể hiện qua quy trình phân luồng tờ khai (luồng Xanh, luồng Vàng, luồng Đỏ) cùng cơ chế kiểm tra sau thông quan. Khung lý thuyết này giúp phân biệt rõ ràng giữa các vi phạm hành chính đơn thuần và hành vi buôn lậu chuyên nghiệp có tổ chức, tạo cơ sở khoa học để đánh giá hiệu quả hoạt động tuần tra, kiểm soát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kết hợp giữa phân tích định tính và xử lý dữ liệu định lượng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2019-2021 của Hải đội 3, Cục Điều tra chống buôn lậu, Ban chỉ đạo 389 quốc gia và hệ thống văn bản pháp quy liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua cuộc điều tra xã hội học thực hiện vào tháng 5 năm 2022 tại trụ sở đơn vị ở thành phố Vũng Tàu.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 100 cán bộ, công chức đang trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm soát và nghiệp vụ tại Hải đội 3. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với lực lượng cán bộ công chức hiện diện nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất và phản ánh trung thực nhận thức thực tế của đội ngũ thực thi. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh chỉ số nhằm lượng hóa mức độ đáp ứng của trang thiết bị, quy trình kiểm soát và tác động của cơ chế luân chuyển nhân sự, từ đó đưa ra kết luận khách quan về thực trạng đơn vị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra những chuyển biến rõ nét trong hoạt động phòng, chống buôn lậu của Hải đội 3 qua chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2019-2021:

Thứ nhất, số lượng vụ việc bị phát hiện và xử lý gia tăng liên tục qua các năm nhưng quy mô giá trị trên từng vụ có xu hướng phân tán. Năm 2019, Hải đội 3 bắt giữ 4 vụ việc và phá thành công 2 chuyên án trọng điểm với tổng trị giá tang vật đạt trên 67 tỷ đồng. Bước sang năm 2020, số lượng vụ việc tăng lên 18 vụ (tăng 350% so với năm 2019) với tổng số tiền phát mại hàng hóa và xử phạt vi phạm hành chính đạt khoảng 21 tỷ đồng. Đến năm 2021, số vụ việc tiếp tục tăng lên 28 vụ việc và chuyên án.

Thứ hai, cơ cấu mặt hàng vi phạm tập trung vào xăng dầu và hàng cấm. Xăng dầu là mặt hàng nóng nhất tại vùng biển Côn Đảo và Tây Nam với nhiều vụ bắt giữ điển hình như tàu TG-92233-TS vận chuyển trái phép 148.875 lít dầu DO trị giá khoảng 2 tỷ đồng, hoặc tàu BT-98144-TS chở 114 m3 dầu DO. Bên cạnh đó, đơn vị đã phối hợp triệt phá các đường dây vận chuyển ma túy quy mô lớn như vụ thu giữ 89,4 kg ma túy tại Đồng Tháp và vụ bắt giữ 20 kg ma túy tổng hợp tại Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2021.

Thứ ba, về nguồn lực, tổng số cán bộ công chức của Hải đội 3 tăng từ 85 người năm 2019 lên 92 người năm 2020 và đạt 100 người năm 2021. Lực lượng được trang bị 10 phương tiện tàu, ca nô tuần tra chuyên dụng cùng các công cụ hỗ trợ hiện đại.

Thảo luận kết quả

Diễn biến gia tăng số vụ bắt giữ từ 4 vụ lên 28 vụ phản ánh nỗ lực kiểm soát quyết liệt của đơn vị, đồng thời chứng minh các đối tượng buôn lậu đã thay đổi phương thức hoạt động. Để giảm thiểu thiệt hại khi bị bắt giữ, các đối tượng chuyển sang chia nhỏ hàng hóa, hoán cải tàu cá và lợi dụng thời tiết xấu để giao dịch tại khu vực phao số 0 hoặc đường phân định trên biển.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện sự tương quan giữa số vụ bắt giữ và giá trị tang vật xử lý qua các năm 2019, 2020 và 2021. Bảng cơ cấu nhân sự phản ánh độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi chiếm tỷ trọng lớn (từ 58% đến 68%), mang lại ưu thế về sức khỏe và kinh nghiệm nhưng cũng bộc lộ khoảng trống về kỹ năng trinh sát chuyên sâu. So sánh với bài học thành công từ Cục Hải quan Quảng Ninh và Cục Hải quan Lào Cai, điểm nghẽn lớn của Hải đội 3 nằm ở quy định luân chuyển cán bộ 3 năm một lần gây xáo trộn lực lượng trinh sát và việc chưa ứng dụng công nghệ giám sát viễn thám tự động ngoài khơi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực chống buôn lậu giai đoạn 2022-2025:

Thứ nhất, nâng cao năng lực nghiệp vụ trinh sát và ứng dụng quản lý rủi ro: Lãnh đạo Hải đội 3 chủ động phối hợp với Tổng cục Hải quan tổ chức các khóa đào tạo nghiệp vụ trinh sát bí mật và thu thập thông tin tình báo cho 100% cán bộ kiểm soát, phấn đấu giảm 15% thời gian điều tra và khám phá các chuyên án lớn trước quý IV năm 2024.

Thứ hai, tăng cường thanh tra công vụ và kiểm soát nội bộ: Phòng Tham mưu nghiệp vụ định kỳ phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện tối thiểu 4 đợt kiểm tra đột xuất mỗi năm đối với các đội tàu tuần tra. Kiên quyết xử lý nghiêm minh 100% trường hợp có dấu hiệu tiêu cực hoặc bao che cho buôn lậu nhằm giữ vững phẩm chất đạo đức cán bộ công chức trong suốt giai đoạn 2022-2025.

Thứ ba, hiện đại hóa trang thiết bị và hạ tầng công nghệ: Đơn vị cần đề xuất Cục Điều tra chống buôn lậu nâng cấp toàn diện hệ thống radar hàng hải trên 10 tàu, ca nô hiện có, đồng thời đầu tư bổ sung thiết bị máy bay không người lái (drone) giám sát tầm xa và tích hợp hệ thống định vị GPS phục vụ theo dõi phương tiện 24/7 từ năm 2023.

Thứ tư, đẩy mạnh phối hợp tác chiến liên ngành: Thiết lập quy chế chia sẻ thông tin tác chiến liên tục với Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3, Đoàn Đặc nhiệm miền Nam (Đoàn 3) thuộc Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng và Công an các tỉnh ven biển, đặt mục tiêu triệt phá triệt để trên 90% các đường dây sang mạn xăng dầu trái phép tại các vùng biển trọng điểm đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý và lực lượng kiểm soát thuộc ngành Hải quan: Cung cấp nguồn tư liệu thực tế và bộ giải pháp nghiệp vụ để tối ưu hóa quy trình tuần tra, kiểm soát trên 10 phương tiện tàu thuyền tại các vùng biển trọng điểm phía Nam.

Thứ hai, các doanh nghiệp vận tải biển, logistics và xuất nhập khẩu: Giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm rõ quy trình kiểm soát rủi ro, danh mục hàng hóa trọng điểm và quy định xử lý vi phạm hành chính để chủ động tuân thủ 100% quy định pháp luật hải quan, phòng tránh rủi ro pháp lý khi thông quan hàng hóa tại các cụm cảng Cái Mép - Thị Vải và cảng Cát Lái.

Thứ ba, học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế đối ngoại: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng với 100 mẫu phiếu khảo sát cùng chuỗi số liệu 3 năm (2019-2021) làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về quản trị công và phòng chống tội phạm kinh tế.

Thứ tư, các cơ quan hoạch định chính sách và lực lượng vũ trang biển: Hỗ trợ Bộ Tài chính và Ban chỉ đạo 389 các cấp hoàn thiện cơ chế luân chuyển cán bộ đặc thù và xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trên biển đến năm 2025.

Câu hỏi thường gặp

Địa bàn nào được xác định là trọng điểm buôn lậu trên biển miền Nam? Khu vực trọng điểm gồm luồng hàng hải từ phao số 0 vịnh Gành Rái dẫn vào Cần Giờ, tuyến sông Thị Vải, cụm cảng Cái Mép, vùng biển Côn Đảo và khu vực biển Tây Nam giáp ranh Campuchia, Malaysia. Đây là các đầu mối tập trung mật độ tàu thuyền lớn và có nhiều bãi cạn, luồng lạch phức tạp.

Mặt hàng nào có tần suất vi phạm cao nhất tại vùng biển phía Nam? Mặt hàng vi phạm phổ biến nhất là dầu DO và xăng với các vụ bắt giữ quy mô lên tới 148.875 lít dầu trên tàu TG-92233-TS vào năm 2021. Ngoài ra, than khoáng sản, sắt thép phế liệu (vụ việc 2.108 tấn năm 2020) và ma túy xuyên biên giới cũng là các mặt hàng trọng điểm thường xuyên bị phát hiện.

Vì sao số vụ vi phạm tăng từ 4 vụ năm 2019 lên 28 vụ năm 2021 nhưng giá trị tang vật lại giảm? Sau khi nhiều chuyên án lớn bị triệt phá trong năm 2019 với tang vật 67 tỷ đồng, các đối tượng đã chuyển sang phương thức chia nhỏ hàng hóa dưới 50.000 lít dầu trên mỗi tàu cá hoán cải để né tránh mức phạt hình sự nặng và giảm thiểu thiệt hại tài chính khi bị lực lượng chức năng kiểm tra.

Cơ cấu nhân sự của Hải đội 3 có những đặc điểm gì cần lưu ý? Đội ngũ gồm 100 cán bộ công chức trong năm 2021 với hơn 55% thuộc độ tuổi 30-40 tuổi giàu nhiệt huyết. Dù làm chủ 10 tàu ca nô tuần tra, đơn vị vẫn gặp thách thức lớn do lực lượng trinh sát bí mật còn mỏng và chính sách luân chuyển cán bộ 3 năm làm gián đoạn kinh nghiệm địa bàn.

Giải pháp đột phá nào giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát giai đoạn 2022-2025? Giải pháp then chốt là trang bị hệ thống máy bay không người lái để giám sát vùng biển xa, đào tạo chuyên sâu về kỹ năng trinh sát cho 100% cán bộ kiểm soát và củng cố quy chế phối hợp tác chiến với lực lượng Cảnh sát biển cùng Bộ đội Biên phòng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về kiểm soát hải quan, phòng chống buôn lậu theo Công ước Nairobi 1977 và Bộ luật Hình sự 2017.
  • Đánh giá chi tiết bức tranh thực tiễn giai đoạn 2019-2021 của Hải đội 3 với sự gia tăng từ 4 vụ lên 28 vụ vi phạm, làm rõ sự chuyển hướng tinh vi của các đối tượng buôn lậu xăng dầu và ma túy.
  • Khảo sát thực chứng 100 cán bộ công chức, nhận diện chính xác các rào cản về cơ chế luân chuyển cán bộ định kỳ 3 năm và công tác trinh sát bí mật.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ, tích hợp trang thiết bị kỹ thuật hiện đại trên 10 tàu tuần tra với cơ chế kiểm tra nội bộ cho giai đoạn 2022-2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho công tác quản trị rủi ro hải quan và bảo vệ chủ quyền an ninh kinh tế biển phía Nam.

Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu là đề xuất mô hình kiểm soát kết hợp giữa công nghệ giám sát hiện đại và quy chế phối hợp liên ngành. Để hiện thực hóa các mục tiêu đến năm 2025, Hải đội 3 cần sớm triển khai đề án trang bị thiết bị bay không người lái và chuẩn hóa quy trình đào tạo trinh sát. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Quang Thanh để ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn quản lý và nghiên cứu học thuật.