CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHÓNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và các hình thức buôn lậu, gian lận thương mị 1. Khái niệm về buôn lậu và gian lận thương mại 1. Khái niệm buôn lậu "Buôn lậu" là thuật ngữ rất phổ biến trong hoạt động thương mại từ xưa.
đến nay, có ý nghĩa là buôn bán những hàng hóa trốn thuế và hàng cắm. Công ước quốc tế về giúp đỡ hành chính giữa các nước nhằm ngăn ngừa, điều tra, trấn áp các hành vi vi phạm hải quan năm 1977 (gọi tắt là Công ước Nairobi) [1] đưa ra khái niệm: “Buôn lậu là gian lận thương mại nhằm che giấu sự kiểm tra, kiểm soát của. Hai quan bằng mọi thủ đoạn, mọi phương tiện trong việc đưa hàng hóa lén lút qua biên giới [2]. Theo tài liệu của Tổ chức Hải quan thế giới đành cho các điều tra viên về gian lận thương mại thì hành vi buôn lậu được khái niệm như sau: “Đó là hành vi đưa hàng hóa vào trong lãnh thổ một quốc gia hay đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ đó mà vi phạm pháp luật hay các quy định hiện hành của quốc gia đó, trốn tránh hay có ý định trốn tránh nộp thuế Hải quan bằng cách không khai báo hoặc trốn tránh không chịu sự kiểm tra của cơ quan chức năng”.
Ø Việt Nam, dù không gọi tên rõ ràng, nhưng hành vì buôn lậu đã được mô tả ở Quốc triều Hình luật của triều Lê (1428-1788). Đến trước năm 1985, thuật ngữ "tội buôn lậu" đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật nước ta như Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng cảnh sát nhân dân (20/7/1962); Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Song về cơ bản tội danh "buôn lậu" lúc đó chưa được hướng dẫn nhận diện đầy đủ với các yếu tố cấu thành và dấu hiệu pháp lý đặc trưng. 1985, Bộ luật Hình sự ra đời (27/06/1985) đã chính thức ghi nhận tội danh buôn.
Điều 97 của Bộ Luật Hình sự tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tê qua biên giới được quy định: "Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. hoặc vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Bắt đầu từ đây, tội danh buôn lậu đã được xác định với bồn yếu tố cấu thành tội phạm (các mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ thể, mặt chủ quan) và những dấu hiệu pháp lý đặc trưng. nên đã có tác dụng hướng dẫn nhận thức cũng, như chỉ đạo thực phi pháp luật.
Đến năm 1999, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 10, ngày 21/12/1999, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung, sửa đổi Bộ luật Hình sự, tại Điều 153 của Bộ luật, tôi buôn lâu được quy định thành một tội độc lập, đã tách tôi vận chuyển trái phép hàng hóa, tệ qua biên giới được quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2017, Điều 188 quy dinh: *Người nào buôn bán qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái pháp luật hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý. tội danh buôn lậu đã xác định rắt rõ 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Khải niệm gian lận thương mại “Gian lận thương mại” theo Từ điển tiếng Việt là "đối trá, lừa lọc" trong Tĩnh vực thương mại.
Dân gian thường gọi là “buôn gian, bán lận”. Định nghĩa về gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan mới được Hội đồng Hợp tác Hải quan quốc tế đưa ra trong Công ước quốc tế Nairobi về hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong. ngăn chặn, trấn áp và điều tra các vi phạm Hải quan: "Gian lận thương mại trong, lĩnh vực Hải quan là hành vi phạm pháp luật Hải quan trong đó một cá nhân lừa dối Hải quan để nhằm lấn tránh một phần hoặc toàn bộ việc nộp thuế xuất nhập khẩu, việc áp dụng các biện pháp cấm hoặc hạn chế do luật pháp Hải quan quy. định, hoặc thu được một khoản lợi nhuận nào đó qua việc vi phạm pháp luật này".
'Khái niệm gian lận thương mại tiếp tục được củng cố sau này, đáng chú ý là tại hội nghị quốc lần thứ V về chống gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan do Tổ chức Hải quan thế giới triệu tập tại Brussels (Bi) từ ngày 9/10/1995 đến ngày 13/10/1995 đã xem xét lại khái niệm về gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan và thống nhất đưa ra một khái niệm mới như sau: "Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các điều khoản pháp quy hoặc pháp luật vềHải quan nhả: ~ Trồn tránh hoặc cố ý trốn tránh việc nộp thuế hải quan, phí và các khoản khu khác đối với việc di chuyền hàng hóa thương mại và/hoặc: ~ Nhận và có ý định nhận việc hoàn trả trợ cắp hoặc phụ cấp cho hàng hóa không thuộc đối tượng đó và/hoặc: ~ Đạt được hoặc cố ý đạt được lợi thế thương mại bắt hợp pháp gây hại cho các nguyên tắc và tập tục, cạnh tranh thương mại chân chính”. Ở Việt Nam cho đến nay, gian lận thương mại không phải là một tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự. Nhìn chung, khái niệm buôn lậu và gian lận thương mại chưa được phân biện rõ rằng ở nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam. Nhiều nước coi buôn lâu cũng là hành vi gian lận thương mại.
Tổ chức Hải quan Thế giới tại hôi nghị lần thứ 5 về chống gian lận thương mại đã xếp buôn lậu vào một trong những hình thức gian lận thương mại nhưng coi đó là loại hình gian lận thương mại đặc biệt nguy hiểm. Ở Việt Nam hiện nay, buôn lậu được coi là hành vi vi phạm pháp luật, không đồng nhất với gian lận thương mại, mà buôn lậu là hành vi gian lận thương. mại nhưng ở mức cao hơn, tính chất phức tạp và nghiêm trọng hơn, nó là trường hợp đặc biệt của gian lận thương mại. Vì vậy, phạm vi của khái niệm gian lận thương mại rộng hơn khái niệm buôn lậu.
Nếu xét ở mức độ nguy hiểm đối với nên kinh tế lì hành vỉ buôn lậu mang ảnh hưởng nghiêm trọng hơn nhiều. Nếu xét ở khía cạnh xử lý thì xử lý gian lận thương mại trong lĩnh vực Hải quan khó khăn hơn và xử lý vi phạm nhẹ hơn. Nếu xét ở góc độ nhận biết thì buôn lậu dễ nhận thấy hơn, còn gian lận thương mại thông thường núp dưới những vỏ bọc hợp pháp. Các hình thức buôn lậu và gian lận thương mại Hiện nay, cơ quan Hải quan áp dụng các phương pháp quản lý Hải quan hiện đại (như phân luồng tờ khai: Xanh (miễn kiểm tra hồ sơ, hàng hóa), Vàng (chỉ kiểm tra chỉ tiết hỗ sơ), Đỏ (kiểm tra chỉ tỉ hỗ sơ và kiểm tra thực tế hàng.
hóa); Phương pháp kiểm tra đại diện, kiểm tra xác suất tỷ lệ 5%, 10% lô hàng, kiểm tra điện tử, hoặc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm (Kiểm tra sau thông quan). dé tao thuận lợi cho hoạt động XNK, rút ngắn thời gian thông quan lô. hàng, giải quyết tình trạng ách tắc hàng hóa tại cửa khâu. Các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại đã triệt để lợi dụng sự thông thoáng, các kẽ hở trong công tác quản lý hàng hóa để buôn lậu gian lận thương mại, chủ yếu tập trung vào một số hình thức sau: a) Buôn bán hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên gi đoạn thường là buôn bán, vận chuyển hàng hóa, tiền tệ qua các đường mòn l không đi qua cửa khâu hoặc giấu giếm, chôn vùi lắp trong các lô hàng xuất khâu nhập khâu, không khai báo cố tình trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Cơ quan Hải quan và cơ quan quản lý cửa khâu nhằm kiếm lợi nhuận bắt hợp pháp.
b) Khai sai khác về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: đây là hành vi gian lận thương mại phổ biến nhất, cụ thể: ~ Khai không đúng lên hàng hóa, mã số hàng hóa thực xuất khâu nhập. khâu làm sai lệch bản chất hàng hóa xuất khâu nhập khẩu chủ yếu để lách các chính sách quản lý nhà nước đối với hàng hóa XNK, gian lận thuế. ~ Khai sai trị giá hàng hóa (khai thấp hơn hoặc cao hơn trị giá hàng hóa thực xuất khâu, thực nhập khâu) nhằm được hưởng thuế suất thấp hơn, không phải nộp thuế hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lợi dụng đề chuyển giá. ~ Khai sai về số lượng, trọng lượng, chất lượng hàng hóa thực xuất khẩu, thực nhập khẩu: như nhập nhiều khai ít, khai sai don vi tinh hàng hóa dé gian lận, hàng hóa có phẩm cấp cao khai là hàng có phẩm cấp thấp, hàng cũ khai hàng thằm gian lận thuế, lách các chính sách quản lý nhà nước đối với hàng hóa ~ Khai sai xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan theo các hiệp định khung của chính phủ đã ký kết theo chế độ tối huệ quốc (MNE).
Ở nước ta, hàng hoá nhập từ. các nước ASEAN, Trung Quốc được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định khung mà Chính phủ ký kết. Do vậy các đối tượng thường lợi dụng khai sai xuất xứ đề gian lận thương mại. e) Giả mạo hồ sơ, giấy tờ, tài liệu, hồ sơ hàng hóa xuất nhập khẩu, hoặc không xuất trình đầy đủ các chứng từ liên quan đến bộ hồ sơ hàng hóa XNK để hợp thức hóa các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại.
Tác hại của buôn lậu và gian lận thương mại 1.1 Tác hại của buôn lậu và gian lận thương mại đối với nền kinh tế quốc dân * Đối với chính phủ: Buôn lậu, GLTM gây thất thu cho ngân sách nhả nước, làm phương hại tới lợi ích quốc gia. Buôn lậu, gian lận thương mại có nguy cơ kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế, tạo thành một lực cản lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hàng hóa nhập lậu là hàng gian " lận, trốn thuế sẽ lâm mắt tính cân bằng trong cạnh tranh thương mại giữa hàng nội và hàng ngoại, đồng thời làm thất thu thuế xuất, nhập khâu và các sắc thuế khác dẫn đến thất thu cho ngân sách nhà nước. Sự mắt cân đối giữa hàng hóa nội địa và hàng ngoại còn gây thiệt hại cho người sản xuất và người tiêu dùng.
Mặt khác, buôn lậu và gian lận thương mại còn làm cho đất nước.