Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về hiệu quả, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, bản chất, phân loại hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh: Với mỗi hình thái xã hội khác nhau, những quan hệ xã hội không tương đồng của mỗi thời kỳ kinh tế dẫn tới các quan niệm về khái niệm phạm trù hiệu quả kinh doanh được đánh giá khác nhau.
Quan điểm thứ nhất của nhà kinh tế học Adam Smith (1998): “Hiệu quả kinh doanh là kết quả của hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Theo quan điểm này thì hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh nhưng chỉ đúng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Ông không giải thích được kết quả kinh doanh tăng do chi phí mở rộng sản xuất tăng hoặc mở rộng nguồn lực sản xuất nên cùng một mức kết quả với chi phí khác nhau thì đều có hiệu quả. Quan điểm thứ hai: “ Hiệu quả kinh doanh là tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí” [16].
Quan điểm này được xây dựng nhằm so sánh giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Quan điểm này đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua phần kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng. Điều này dẫn đến không đánh giá hết được toàn bộ hiệu quả hoạt động kinh doanh do công thức chỉ xem xét tới hiệu quả trên cơ sở so sánh chênh lệch tăng thêm của chi phí và kết quả mà không xem xét tới chi phí hay kết quả ban đầu. Quan điểm thứ ba: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
Quan điểm này chỉ ra mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh khi gắn liên kết quả với toàn bộ chi phí và coi hiệu quả phản án thông qua trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh [16]. 5 Luan van Hiện nay hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, gắn với cơ chế thị trường, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như: lao động, vốn, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,. nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh các nhà kinh tế dựa vào từng góc độ xem xét để đưa ra các định nghĩa khác nhau. Do vậy quan điểm khách nhau về hiệu quả kinh doanh cho ta đưa ra khái niệm chung nhất về hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau: “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí chi phí nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh ”. Hiệu quả kinh doanh ngày nay càng trở nên quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, cần hiểu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện trên cả hai mặt: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có mối quan hệ khăng khít nhưng cũng có mâu thuẫn. Vì vậy, vấn đề ở đây là tạo sự thống nhất giữa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của toàn xã hội. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, điều đòi hỏi đặt ra ở đây cho doanh nghiệp là không được vì lợi ích trước mắt mà làm tổn hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được đặt trong mối quan hệ mật thiết chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, có thể nói doanh nghiệp là một tế bào, một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Lợi ích của toàn xã hội, của doanh nghiệp bao giờ cũng phải phù hợp nhau. Thực tế cho thấy có những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lợi cho mình nhưng lại không cần thiết cho xã hội, cũng có thể gây tác hại cho xã hội như ô 6 Luan van nhiễm môi trường, thất nghiệp, các tệ nạn,. Mâu thuẫn này cho thấy sự không trùng hợp giữa tiêu chuẩn hiệu quả xã hội với hiệu quả của doanh nghiệp.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh: Khi phân tích một vấn đề nào người ta cũng đặt trong một hoàn cảnh cụ thể. Đối với phân tích hoạt động kinh doanh, khi phân tích, đánh giá các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp cần xem xét gắn liền với thời gian, không gian, môi trường hoạt động trong quá trình nghiên cứu. Như ta đã biết, trong mô hình kinh tế T-H-T’, khi bỏ ra một đồng vốn ban đầu nhằm đầu tư cho những yếu tố đầu vào, trải qua quá trình sản xuất doanh nghiệp luôn mong từ đồng vốn T ban đầu sẽ trở thành đồng T’ với giá trị cao hơn giá trị đầu tư ban đầu. Bản chất của hiệu quả kinh doanh cũng vậy, đó là sự so sánh giữa các yếu tố đầu vào với lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh.
Nó được phản ảnh thông qua tình hình sử dụng các nguồn lực của DN nhằm khai thác tối đan lợi nhuận của DN. Các kết quả được tổng hợp, phân tích từ hiệu quả kinh doanh là chứng cứ, cơ sở khoa học để đánh giá trình độ quản lý và kế hoạch, quyết định tương lai. Tùy thuộc vào môi trường phân tích mà độ chính xác của các chỉ tiêu đánh giá lệch chuẩn so với kết quả thực tế. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh được khái quát và thể hiện thông qua hai công thức hiệu quả đạt được (dạng thuận) và khả năng đạt được (dạng nghịch) Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện hiệu quả dạng thuận [16]: Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = (1.1) Yếu tố đầu vào Công thức chỉ ra: một đồng yếu tố đầu vào (chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh như vốn, nhân công, nguyên vật liệu.) tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu.
trong một kì kinh doanh). Chỉ tiêu từ công thức này cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và chiến lược sản xuất của doanh nghiệp đúng đắn và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp. Tất cả doanh nghiệp khi hoạt động trên thị trường luôn yêu cầu kết quả đầu ra cao với yếu tố đầu vào thấp nhất nhằm thu được lợi ích từ chênh lệch tạo lợi nhuận trong quá trình vận hành DN. 7 Luan van Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện khả năng dạng nghịch [7]: Yếu tố đầu vào Hiệu quả kinh doanh = (1.2) Kết quả đầu ra Công thức này cho biết: một đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận,.
thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào. Kết quả của công thức này tỷ lệ nghịch với công thức trên. Chỉ tiêu công thức dạng nghịch càng thấp chứng tỏ DN kiểm soát chi phí tốt, lợi nhuận cao, hiệu quả kinh doanh cao. Từ kết quả đánh giá trên, nhà quản trị đánh giá được chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ nhằm phản ảnh đúng nguồn lực tiềm tàng để từ đó nâng cao hiệu quả.
Thực tế cho thấy, khi nghiên cứu mối tương quan giữa kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào, DN luôn gặp khó khăn và kết quả nghiên cứu chỉ mang tính tương đối với chỉ tiêu kết quả và chi phí phức tạp, rất khó đánh giá chính xác. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, DN nào cũng phải chịu sự ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau. Phân loại hiệu quả kinh doanh. Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, là phương cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả đã đạt được và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lược, kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả được biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp. - Căn cứ vào đối tượng hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả cá biệt: là hiệu quả thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lượng thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra. Hiệu quả kinh tế quốc dân: được tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thặng dư, thu nhập quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nước thu được trong mỗi thời kỳ so với lượng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.
- Căn cứ vào phạm vi chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh phản ánh 8 Luan van Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: phản ánh khái quát và cho phép kết luận về hiệu quả kinh doanh của toàn bộ quá tình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Hiệu quả kinh doanh bộ phận: Là hiệu quả kinh doanh chỉ xét ở từng lĩnh vực hoạt động (sử dụng vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…) cụ thể của doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh bộ phận chỉ phản ánh hiệu quả ở từng lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp chứ không phản ánh hiệu quả của doanh nghiệp. - Căn cứ theo khía cạnh kết quả, hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối: là phạm trù chỉ lượng hiệu quả cho từng phương án kinh doanh, cho từng DN, từng thời kì kinh doanh.
Nó được tính toán bằng cách xác định mức lợi ích thu được với chi phí bỏ ra. Hiệu quả tương đối: là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp.