CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Các khái niệm cơ bản về tạo động lực 1. Động lực lao động Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2010): “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới môt mục tiêu, kết quả nào đó” Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013): “Động cơ lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực và say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Từ những quan điểm về động lực lao động ở trên, ta thấy được động lực lao động có những đặc điểm cơ bản sau: - Một là, động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức cũng như môi trường làm việc của tổ chức đó. - Hai là, động lực lao động không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. - Ba là, trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động sẽ dẫn đến tăng năng suất lao động, hiệu quả công việc.
Nhưng, ta không thể khẳng định đó rằng là yếu tố tất yếu dẫn đến tăng năng suất và hiệu quả công việc. - Bốn là, người lao động nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc của mình. Bởi vì, họ có trình độ, năng lực, có khả năng thực hiện công việc cho nên dù không có động lực họ vẫn có thể hoàn thành công việc của mình. Tạo động lực lao động Để có được động lực cho người lao động làm việc thì người lãnh đạo phải tìm cách tạo ra được động lực cho họ.
“Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp, các thủ thuật quản lí tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc”. Quá trình tạo động lực làm một quá trình diễn ra liên tục và cần đầu tư nhiều nên đòi hỏi các nhà quản lý phải nắm bắt được các nhu cầu của người lao động từ đó đưa các chính sách mà lợi ích gắn chặt với hoạt động của tổ chức.1: Quá trình tạo động lực lao đông Nhu cầu Sự căng Các Hành vi Nhu cầu Giảm không thẳng động cơ tìm được căng được kiếm thỏa thẳng thỏa mãn mãn (Nguồn :Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương(2013), Giáo trình Hành vi tổ chức, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân) 1. Một số học thuyết về động lực 1. Thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow Theo Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến cao nhất.
Khi một nhóm nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động lực để thúc đẩy nữa và chuyển sang nhu cầu cao hơn.2: Tháp nhu cầu Maslow - Nhu cầu sinh lý: bao gồm các nhu cầu cơ bản nhất của con người như: ăn, uống, nghỉ ngơi, hít thở, các nhu cầu đáp ứng điều kiện sống cơ bản… - Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu về sự an toàn về thân thể, cuộc sống ổn định cũng như tránh khỏi sự nguy hiểm, độc hại, bệnh tật… - Nhu cầu xã hội: bao gồm nhu cầu giao tiếp, trò chuyện với người khác để thể hiện tình cảm, sự chăm sóc và hiệp tác trong công việc,… - Nhu cầu được tôn trọng: Ngoài nhu cầu muốn giao tiếp với người khác thì con người còn muốn đượckính trọng, thừa nhận vị trí của mình trong xã hội. - Nhu cầu tự hoàn thiện: là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình. Họ mong muốn được phát huy hết khả năng của bản thân và hoàn thiện bản thân hơn. Trong thực thế, không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng các nhu cầu khi đã được thỏa mãn một phần cơ bản thì những tác động vào nhu cầu đó sẽ không còn tạo động lực cho người lao động.
Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg F.Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo động lực. Ông chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong công việc thành hai nhóm: - Nhóm 1: Bao gồm các yếu tố then chốt, để tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc như: sự thành đạt, sự thừa nhận về thành tích, bản chất bên trong công việc, trách nhiệm lao động, sự thăng tiến. - Nhóm 2: Bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức như: các chính sách về chế độ quản trị của công ty, sự giám sát công việc, tiền lương, các quan hệ con người, các điều kiện làm việc… Theo F.Herzberg, nếu các yếu tố trên mang tính chất tích cực thì sẽ có tác động ngăn ngừa sự không thỏa mãn trong công việc. Tuy nhiên nếu chỉ riêng sự hiện diện của chúng thì không đủ điều kiện tạo ra động lực và sự thỏa mãn trong công việc.
Thuyết kỳ vọng của Victor Vrom Học thuyết này cho rằng cường độ của một xu hướng hành động theo một cách nào đó phụ thuộc vào độ kỳ vọng rằng hành động đó sẽ đem đến một kết quả nhất định và tính hấp dẫn của kết quả đó đối với cá nhân. Vì vậy, lý thuyết này bao gồm ba biến số sau đây: - Tính hấp dẫn: Đó là tầm quan trọng mà cá nhân đặt vào kết quả hay phần thưởng tiềm tàng có thể đạt được trong công việc. Biến số này xem xét các nhu cầu không được thỏa mãn của cá nhân - Mối liên hệ giữa kết quả và phần thưởng: Mức độ cá nhân tin rằng thực hiện công việc ở một mức độ cụ thể nào đó sẽ dẫn đến việc thu được một kết quả mong muốn. - Mối liên hệ giữa nỗ lực và kết quả: Khả năng một cá nhân nhận thức được rằng bỏ ra một nỗ lực nhất định sẽ đem lại kết quả.3: Mô hình kỳ vọng Nỗ lực Kết quả Phần Mục cá nhân cá nhân thưởng tiêu cá tổ chức nhân (Nguồn:Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương(2013), Giáo trình Hành vi tổ chức, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân) 1.
Thuyết công bằng J Stacy Adam đề cập đến vấn đề nhận thứ của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức. Giả thiết cơ bản của học thuyết là mọi người đều muốn được đối xử công bằng, các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi họ nhận được với sự đóng góp và quyền lợi của người khác. Người lao động sẽ cảm nhận được đối xử công bằng khi cảm thấy tỷ lệ quyền lợi/đóng góp của mình ngang bằng với tỷ lệ của những người khác. Do đó, để tạo động lực, người quản lý cần tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa sự đóng góp của cá nhân và các quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng.
Thuyết tăng cường tích cực Học thuyết này dựa vào công trình nghiên cứu của B. Skiner, hướng vào việc làm thay đổi hành vi của con người thông qua các tác động tăng cường. Học thuyết cho rằng những hành vi được thưởng sẽ có xu hướng được lặp lại, còn những hành vi không được thưởng (hoặc bị phạt) sẽ có xu hướng không được lặp lại. Đồng thời, khoảng thời gian giữa thời điểm xảy ra hành vi và thời điểm thưởng/phạt càng ngắn bao nhiêu thì càng có tác dụng thay đổi hành vi bấy nhiêu.
Để tạo động lực lao động, người quản lý cần quan tâm đến các thành tích tốt và thưởng cho các thành tích đó. Sự nhấn mạnh các hình thức thưởng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn sự nhấn mạnh các hình thức phạt. Hoạt động tạo động lực cho người lao động 1. Thù lao lao động Thù lao lao động là tất cả các khoản mà người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn giữa họ và tổ chức.
Cơ cấu thù lao lao động gồm 3 thành phần: tiền lương, các khuyến khích, các phúc lợi. Tiền lương Tiền lương: là số tiền trả cho người lao động một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị (tuần, tháng, năm). Đây là yếu tố cơ bản để đảm bảo cho người lao động có cuộc sống ổn định duy trì thể lực và trí lực để làm việc. Để thiết kế một cơ chế tiền lương hợp lý và hấp dẫn người động thì hệ thống tiền lương cần thỏa mãn các tiêu chí: - Công bằng nội bộ: Người lao động ước lượng mức độ công bằng bằng cách so sánh với việc làm của những nhân viên khác trong tổ chức, nếu họ cho rằng có sự không công bằng thì sẽ có sự bất mãn nhằm khôi phục sự công bằng.
- Hợp lý với công việc, năng lực và thành tích của mỗi cá nhân trong tổ chức: phương pháp xây dựng cấu trúc lương có ảnh hưởng đến sự hợp lý này. - Cạnh tranh bên ngoài: các vị trí giống nhau ở các tổ chức khác nhau trong cùng một ngành nghề, nếu mức lương có khoảng cách lớn sẽ tác động đến Người lao động trong việc quyết định có chấp nhận công việc khi được tuyển dụng hay không? Có chuyển sang tổ chức có mức lương cao hơn hay không? 1.2 Khuyến khích tài chính ( tiền thưởng) Khuyến khích tài chính là những khoản phụ thêm ngoài tiền lương để thù lao cho sự thực hiện tốt hơn mức tiêu chuẩn của người lao động. Tiền thưởng là một loại của khuyến khích tài chính. Đó là khoản tiền được chi trả một lần (cuối tháng, cuối năm) để thù lao cho sự thực hiện công việc của người lao động cũng như có thể chi trả đột xuất để ghi nhận những thành tích xuất sắc của người lao động.
Nhằm hỗ trợ cho người lao động thực hiện tốt hơn công việc của họ. Theo Lương Văn Úc (2011) thì tiền thưởng bao gồm thưởng cá nhân và thưởng tập thể và thường được sử dụng trong các trường hợp như sau: - Thưởng cho nhân viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. - Thưởng tiết kiệm được nguyên vật liệu sử dụng trong quá trình lao động. - Thưởng cho những ý tưởng sáng tạo của người lao động.