CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 1. Khái niệm động lực lao động Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức. Động lực lao động cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: Thứ nhất: Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc.
Nó bao gồm: - Lợi ích của con người: Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người, nhu cầu là yếu tố quan trọng nhất của tạo động lực. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không có lợi ích hay lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu. Khi có sự thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần tức là con người nhận được lợi ích từ vật chất và tinh thần, khi đó động lực tạo ra càng lớn. - Mục tiêu cá nhân: Là trạng thái mong đợi cần có và có thể có của cá nhân.
Điều này có nghĩa mục tiêu cá nhân là cái đích mà cá nhân người muốn vươn tới và qua đó sẽ thực hiện nhiều biện pháp để đạt được cái đích đề ra trạng thái mong đợi. - Thái độ của cá nhân: Là cách nhìn nhận của cá nhân đối với công việc mà họ đang thực hiện. Qua cách nhìn nhận nó thể hiện đánh giá chủ quan của con người đối với công việc, yếu tố này chịu ảnh hưởng nhiều của quan niệm xã hội và tác động của bạn bè. Nếu như cá nhân có thái độ tích cực đối với công việc thì anh ta sẽ hăng say với công việc, còn không thì ngược lại.
- Khả năng - Năng lực của cá nhân: Yếu tố này đề cập đến khả năng giải quyết công việc, kiến thức trình độ chuyên môn về công việc. Nhân tố này cũng tác động đến hai mặt của tạo động lực lao động. Nó có thể làm tăng cường nếu anh ta có khả năng trình độ để giải quyết công việc, nếu ngược lại sẽ làm cho anh ta nản trí trong việc giải quyết công việc. 7 - Thâm niên, kinh nghiệm công tác: Là yếu tố phải được tính đến khi trả công lao động.
Người lao động có thâm niên lâu năm trong nghề thì có mong muốn nhận được lương cao hơn. Còn khi họ có kinh nghiệm công tác thì đòi hỏi mức tiền lương trả cho họ phải như thế nào cho phù hợp. Có như vậy tổ chức mới có thể khuyến khích được người lao động làm việc cho mình một cách có hiệu quả. Thứ hai: Các nhân tố thuộc môi trường, nó bao gồm các nhân tố sau: - Văn hoá của Doanh nghiệp: Yếu tố này được định nghĩa như một hệ thống các giá trị các niềm tin và các thói quen được chia sẻ trong phạm vi một tổ chức chính quy và tạo ra các chuẩn mực về hành vi trong doanh nghiệp.
Bầu văn hoá của Doanh nghiệp được hình thành từ sự kết hợp hài hoà hợp lý giữa quan điểm phong cách của quản lý ông chủ (người lãnh đạo) và các thành viên trong doanh nghiệp, nó được bộc lộ trong suốt quá trình lao động, thời gian lao động mà người lao động công tác làm việc tại doanh nghiệp. Nếu bầu không khí văn hóa thoáng, dân chủ mọi người trong doanh nghiệp từ các cấp lãnh đạo đến nhân viên hòa thuận đầm ấm vui vẻ có trạng thái tinh thần thoải mái, hệ thần kinh không bị ức chế. Khi đó nó sẽ cuốn hút người lao động hăng hái làm việc với năng suất chất lượng cao. Ngược lại bầu không khí văn hóa khép kín, cấp dưới phục tùng cấp trên nó sẽ khiến người lao động có cảm giác chán chường, không hứng thú với công việc.
- Các chính sách về nhân sự: Đây là vấn đề bao hàm rất nhiều yếu tố nó tùy thuộc vào doanh nghiệp có chú ý quan tâm thực hiện hay không. Bao gồm một loạt các vấn đề như: luân chuyển, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật.Đây là những chính sách mà doanh nghiệp nhằm đáp ứng lại các nhu cầu mục tiêu cá nhân của người lao động. Mà nhu cầu là nhân tố bên trong quan trọng nhất thúc đẩy người lao động làm việc. Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến động lực lao động như: kiểu lãnh đạo, cấu trúc tổ chức doanh nghiệp và các yếu tố về xã hội.
Thứ ba: Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc. Công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người lao động trong tổ chức. Nó bao gồm các yếu tố như: 8 - Tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc: Yếu tố này phụ thuộc vào bản chất công việc, công việc đó có ổn định hay không. Nếu công việc có tính ổn định và mức độ tự chủ cao sẽ tác động đến kinh nghiệm và khả năng làm việc của người lao động, giúp họ yên tâm công tác và sẽ phát huy hết khả năng làm việc của mình.
- Mức độ khác nhau về nhiệm vụ, trách nhiệm: Mỗi công việc khác nhau sẽ yêu cầu về ý thức trách nhiệm, nhiệm vụ khác nhau: bao gồm trách nhiệm về tiền, tài sản, trách nhiệm về người lao động do mình quản lý. Công việc này đòi hỏi người lao động phải có ý thức trách nhiệm và nhiệm vụ cao. - Sự phức tạp của công việc: Đây là sự căng thẳng trong công việc, sự hao phí về sức lao động cũng như hao phí về thể lực và trí lực của người lao động mà công việc đó đòi hỏi họ phải có một cố gắng trong quá trình thực hiện công việc. - Sự hấp dẫn và thích thú: Trong quá trình làm việc nếu công việc có sức hấp dẫn đối với người lao động sẽ kích thích tinh thần và khả năng làm việc của người lao động, họ sẽ làm việc với năng suất cao và ngược lại.
Khái niệm tạo động lực lao động Tạo động lực lao động là tất cả những hoạt động mà doanh nghiệp có thể thực hiện được đối với người lao động, tác động đến khả năng làm việc tinh thần thái độ làm việc nhằm đem lại hiệu quả cao trong lao động. Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác là lợi ích tạo ra động lực trong lao động. Song trên thực tế động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể.
Sự cần thiết phải tạo động lực làm việc Động lực của nhân viên là điều cần thiết trong môi trường làm việc, vốn luôn được đổi mới với tốc độ khá nhanh chóng tại các công ty hay tổ chức. Nhân viên có động lực làm việc sẽ tạo thành tích cao hơn, từ đó là tiền đề giúp tổ chức tồn tại. Để 9 có được hiệu quả như mong muốn, các nhà quản lý cần phải hiểu những gì thúc đẩy người lao động dựa theo bối cảnh và vai trò của từng yếu tố tạo ra sự thúc đẩy này. Theo như nghiên cứu của Farhaan (2009) thì khi nhân viên có động lực làm việc thì hiệu quả công việc sẽ đạt được hiệu suất lên đến 80-90%, tỉ lệ nghỉ việc, nghỉ phép thấp.
Điều này cho ta thấy khi tạo được động lực làm việc cho nhân viên, không những sẽ đem lại hiệu suất cao trong công việc, mà còn gia tăng lòng trung thành của họ đối với tổ chức. Kovach (1995) đã chỉ ra là “Vấn đề lớn nhất trong quản trị là nhận biết được chính xác các nhân tố thúc đẩy làm việc của nhân viên”. Qua đó ta thấy được vấn đề sống còn của mọi tổ chức là cần sớm nhận biết được những vấn đề nào có tác dụng lớn trong thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên, từ đó đưa ra các chính sách động viên đúng chổ sẽ mang lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức.4 Các học thuyết về tạo động lực 1.1 Abraham Maslow (1908 – 1970) Abraham Maslow là một nhà tâm lý học đã xây dựng một lý thuyết về nhu cầu của con người gồm 5 cấp bậc được sắp xếp theo thứ tự từ thấp lên cao: (1) nhu cầu cơ bản, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng, và cuối cùng là (5) nhu cầu tự hoàn thiện. Maslow cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng, được thể hiện như sau: - Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn uống, ngủ nghỉ, mặc, và các nhu cầu khác của cơ thể….
- Những nhu cầu về an toàn: là các nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa, luật lệ, chuẩn mực… - Nhu cầu xã hội: là các nhu cầu về tạo mối quan hệ với người khác, sự chấp nhận, chăm sóc, hợp tác, bạn bè, tình yêu… - Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác và được người khác tôn trọng, địa vị… 10 - Nhu cầu tự hoàn thiện: Là các nhu cầu trưởng thành và phát triển bản thân, tự chủ, sáng tạo, phát huy thực hiện hóa năng lực bản thân lên thành tích mới… Đây là lý thuyết được xem là nền tảng của nhu cầu con người và được biết đến cũng như ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực quản trị nguồn nhân lực. Các nhà quản lý dựa vào các nhu cầu này để có những chính sách động viên và thúc đẩy nhân viên để làm việc hiệu quả hơn, tác động đến sự thỏa mãn của nhân viên để từ đó nhân viên gắn bó với tổ chức cũng như giảm tỷ lệ nghỉ việc của nhân viên.