CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm Khởi nghiệp Khởi nghiệp kinh doanh (KNKD): là việc một cá nhân (một mình hoặc cùng người khác) tận dụng cơ hội kinh doanh mới (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2015), hoặc là một thái độ làm việc đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn đổi mới và chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại (Bird, 1988). Khởi nghiệp, (tiếng Anh: Startup) là thuật ngữ nói về những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nghĩa hẹp chỉ các công ty công nghệ trong giai đoạn lập nghiệp.
Theo quy định trong bản dự thảo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Chính Phủ trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khóa 14, nhiều khái niệm chưa từng xuất hiện trong luật bắt đầu được “luật hoá”. Trong đó khái niệm “startup” được định nghĩa trong dự thảo này là “khởi nghiệp sáng tạo”. Tại khoản 9 điều 3 Dự thảo nêu: Khởi nghiệp sáng tạo (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris &cs, 2007); là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007).
Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp của sinh viên xuất phát từ các ý tưởng của sinh viên và được định hướng đúng đắn từ chương trình giáo dục và những người đào tạo (Schwarz & cs, 2009). Nghiên cứu này sử dụng định nghĩa ý định khởi nghiệp của sinh viên. Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris &cs, 2007); là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta & Bhawe, 2007).
Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các 6 Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Kuckertz & Wagner, 2010). Bird (1988) quan niệm ý định khởi nghiệp của một cá nhân là trạng thái tâm trí, trong đó hướng đến việc hình thành một hoạt động kinh doanh mới hay tạo lập một doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp cũng được định nghĩa là ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Souitaris, Zerbinati, & Al-Laham, 2007). Kuckertz và Wagner (2010) khẳng định ý định khởi nghiệp bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp.
Zain, Akram, và Ghani (2010) cho rằng ý định khởi nghiệp thường liên quan đến nội tâm, hoài bão và cảm giác của cá nhân đối với việc “đứng trên đôi chân của mình”. Nghiên cứu của Dohse và Walter (2012) đã đưa ra một khái niệm súc tích và gần gũi hơn so với các nghiên cứu trước về ý định khởi nghiệp, trong đó ý định khởi nghiệp là trạng thái của tâm trí trong việc sẵn sàng thực hiện tự kinh doanh, tự tạo việc làm hoặc thành lập doanh nghiệp mới. Ý định khởi nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này cũng được hiểu theo quan điểm của Dohse và Walter (2012). Tinh thần khởi nghiệp Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa là việc sở hữu doanh nghiệp nhỏ độc lập hoặc phát triển những nhà quản lý tìm kiếm cơ hội trong doanh nghiệp (Colton, 1990).
Tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa bởi Low và MacMillan (1988, trang 141) là “tạo ra doanh nghiệp mới”. Định nghĩa này phản ánh nhận thức ngày càng tăng rằng tinh thần khởi nghiệp là một "quy trình hoàn thiện dần dần hơn là trạng thái hiện hữu ”(Bygrave, 1989, trang 21). Khái niệm vốn xã hội Khi nhắc đến cụm từ “Vốn xã hội”, người ta thường xét đến hai khía cạnh là “Vốn” và thứ hai là “xã hội”. Vốn được hiểu là những gì đã có sẵn, ở trong quỹ, trong kho hay ở đâu đấy được tích lũy hay tạo nên từ sự một quá trình, thiếu đặc tính có sẵn này (instantiated) thì không thể gọi là vốn.
Xã hội là một nhóm các cá nhân liên quan đến tương tác xã hội một cách thường xuyên, hoặc một nhóm xã hội lớn có chung lãnh thổ không gian hoặc xã hội, thường chịu cùng thẩm quyền chính trị và các kỳ vọng văn hóa chi phối. 7 Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 Theo Nan Lin (2001) thì vốn xã hội được hiểu là “nguồn lực gắn với mạng lưới xã hội và được sử dụng bởi những người cho những hành động”. Như vậy, vốn xã hội bao gồm 3 thành phần: đó là nguồn lực được gắn kết trong một cấu trúc xã hội, cá nhân có khả năng tiếp cận các nguồn lực và sử dụng hoặc huy động các nguồn lưc này cho mục đích tìm kiếm lợi ích của mình và hành động của cá nhân là hành động có mục đích. Vốn xã hội có thể thay thế các thể chế chính thức một cách hiệu quả.Vốn xã hội tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa mọi người, thúc đẩy sự lưu chuyển, lan tỏa của các nguồn lực, thông tin, các ý tưởng và công nghệ.
Vốn xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới sáng tạo. Vốn xã hội có tác động tích cực làm gia tăng vốn con người. Vốn xã hội được chia làm hai nhóm cơ bản: Nhóm thứ nhất gắn với “mạng lưới quan hệ xã hội”. Mạng lưới quan hệ xã hội trước tiên được thể hiện ở số lượng/mật độ mối quan hệ (nhiều hay ít các mối quan hệ xã hội); chất lượng mối quan hệ (các nguồn lực mà các cá nhân khác đang nắm giữ như một tiềm năng sử dụng cho cá nhân); đặc điểm mối quan hệ (mối quan hệ có thân thiết hay không thể hiện ở mức độ tin tưởng, sự tương trợ, tần số tương tác; các đặc điểm này ảnh hưởng tới mức độ cá nhân có thể khai thác các nguồn lực của cá nhân khác trong mạng lưới).
Là thành viên trong các tổ chức xã hội cũng phản ánh các cơ cấu xã hội sinh viên tham gia bên cạnh mạng lưới quan hệ. Tình trạng hôn nhân, địa bàn cư trú cũng là những thông tin phản ánh khía cạnh quy mô mạng lưới xã hội và cơ cấu xã hội mà sinh viên có được. Nhóm thứ hai là “các nguồn lực” thuộc về các cá nhân khác có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh viên tốt nghiệp (gia đình, bạn bè, thầy cô…); các nguồn lực có thể là vốn tài chính (sự hỗ trợ về tiền bạc, các chi phí tìm kiếm), có thể là vốn văn hóa (trình độ học vấn, nghề nghiệp…), cũng có thể là các giá trị mang tính biểu trưng (thông tin, uy tín xã hội, vốn xã hội). Vai trò vốn xã hội trong hoạt động khởi nghiệp của sinh viên Trong mỗi thời kỳ, doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau.
Ở giai đoạn non trẻ - giai đoạn dễ quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, các nhóm khởi nghiệp đặc biệt thiếu nguồn lực nên cần huy động mạnh mẽ. Bên cạnh đó, các nhóm khởi nghiệp cũng cần phát triển nhanh chóng để thâm nhập thị trường và tạo chỗ đứng cho doanh nghiệp. Hơn nữa, họ cần liên tục thử nghiệm mô hình kinh doanh để đạt được kết quả ngày càng cao hơn và tối ưu hóa các nguồn lực. Những đặc điểm này của các nhóm khởi nghiệp đòi hỏi chất lượng và số lượng nguồn lực khác biệt so với các giai đoạn khác của doanh nghiệp.
8 Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 Với những đặc điểm trên, Clough et al. (2019) chia các nguồn lực mà một công ty khởi nghiệp cần thành bốn nhóm chính: vốn nhân lực, vốn xã hội, vốn tài chính và các vốn khác. Vốn xã hội có vai trò quan trọng như các nguồn vốn khác, thậm chí có thể huy động tất cả các dạng nguồn lực chủ yếu như vốn tài chính hay vốn nhân lực, góp phần quan trọng vào sự thành công của nhóm khởi nghiệp (Putnam, 1993, 1995, 2000; Shane & Cable, 2002; Aldrich & Martinez, 2003; Ruef, Aldrich, & Carter, 2003; Audretsch & Keilbach, 2004). Vốn xã hội là chìa khóa để đổi mới sản phẩm, quy trình sản xuất, tiếp thị và hiệu quả hoạt động của các công ty khởi nghiệp ở Việt Nam (Nam, 2014).
Ngoài ra, vốn xã hội còn tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn xin vay vốn: Những công ty có mối quan hệ thân thiết hơn với cơ quan chính phủ và những doanh nhân khác có thể được vay vốn trong thời gian dài (Pham & Talavera, 2018). Sự tương tác giữa vốn nhân lực và vốn xã hội có ý nghĩa thống kê và ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp mới (Santarelli & Tran, 2013). Qua quá trình nghiên cứu, với sự kế thừa và phát triển theo quan điểm của Santarelli & Tran (2013), nhóm nghiên cứu nhận thấy ảnh hưởng của vốn xã hội đến hiệu quả của doanh nghiệp có thể chia thành 3 khía cạnh chính: (1) Vốn xã hội cho phép các doanh nhân tiếp cận với đa dạng tài nguyên khan hiếm; (2) Vốn xã hội giúp doanh nghiệp tiếp cận tới các nguồn lực vô hình (3) Vốn xã hội có chức năng thông tin, đặc biệt với các nguồn bên ngoài của tổ chức. Cơ hội tiếp cận đa dạng tài nguyên khan hiếm Tác động của vốn xã hội đến Cơ hội tiếp cận các nguồn lực vô hình hoạt động khởi nghiệp Chức năng thông tin ( đặc biệt với nguồn bên ngoài) Hình 1.
Tác động của vốn xã hội đến hoạt động khởi nghiệp Nguồn: Nhóm nghiên cứu (1) Vốn xã hội mang lại cho các doanh nghiệp cơ hội tiếp cận với nhiều loại nguồn lực khan hiếm 9 Downloaded by Uy vu Nguyen (tailieuso.com) lOMoARcPSD|38544120 Bayern Schuster et al. (2010) lập luận rằng: “Vốn xã hội giúp các doanh nhân giảm bớt sự hạn chế về nguồn lực vốn rất quan trọng trong các cộng đồng nhỏ với sự khan hiếm của các tổ chức định hướng thị trường như các công ty đầu tư mạo hiểm”.