CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÁC NHÂN TO ANH HUONG DEN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 1.Một số lý thuyết 1.Khái niệm khởi nghiệp Thuật ngữ quan điểm về khởi nghiệp (entrepreneurship) đã có một thời gian khá dài trên toàn cầu và nó đang trở nên phổ biến hơn ngày nay. Theo các nhà nghiên cứu, những người có tinh thần khởi nghiệp that sự là những con người có hoài bão, đam mê, lòng đũng cảm dám đối mặt với rủi ro và that bại. Đồng thời đây là những con người luôn có sự đổi mới, sáng tạo mà không phải ai cũng làm được.
Theo Drucker (2011), một doanh nhân khởi nghiệp biến những suy nghĩ nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới thành những sản phẩm kinh tế. Những hành động này có thé dẫn đến sự hình thành những tô chức mới hoặc tái tạo những tổ chức đang lỗi thời và dần tụt hậu so với sự thay đôi của thế giới. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu khác, khởi nghiệp được coi là quá trình các cá nhân nỗ lực tìm kiếm và tận dụng các cơ hội của thị trường thông qua việc thành lập các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật dé thực hiện hoạt động kinh doanh (Minniti va Naudé, 2010; O’Connor, 2013). Như vậy, trên phương diện chung nhất có thé thấy hình thức và biểu hiện rõ ràng nhất của khởi nghiệp là các doanh nghiệp mới được thành lập.
Tuy nhiên, ở một quan điểm khác Schumpeter (1947) cho rằng khởi nghiệp không chỉ đơn thuần là hoạt động thành lập các doanh nghiệp mới mà còn là sự bắt đầu của những sự việc mới theo các cách khác nhau. Hay đó là su sáng tao, đôi mới dé tim kiếm sự phát triển trong nền kinh tế xã hội cùng hệ sinh thái với các doanh nghiệp, ngành nghé, lĩnh vực khác (Volkmann và cộng sự, 2009). Bên cạnh các quan điểm chính do Drucker (2011), Minniti và Naudé (2010); O’Connor (2013),. Từ điển Tiếng Việt cũng đề cập đến khái niệm khởi nghiệp có ý nghĩa là bắt đầu sự nghiệp.
Mặc dù có rất nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau xoay quanh thuật ngữ này từ các nhà nghiên cứu như Cole (1949), Penrose (1959), Drucker (1985), Stevenson và Jarillo (1990), Rabboir (1995), Schnurr va Newing (1997), Learned (2002),.nhưng nhìn chung có thé thay các quan điểm đều có điểm chung khi hướng đến đặc điểm chính của khởi nghiệp là quá trình khám phá, đổi mới, phát triển các ý tưởng độc đáo, khác biệt, tìm kiếm và nắm bắt các cơ hội tiềm ân từ thị trường cùng tinh thần chấp nhận rủi ro dé đạt được mục tiêu theo đuổi. Xét về khía cạnh đối với sinh viên, khởi nghiệp ngày càng có nhiều ý nghĩa hơn đối với thé hệ trẻ. Khởi nghiệp cũng dan trở thành một trong những môn học quan trọng được áp dụng tại các cơ sở đào tạo, trường đại học, cao đăng, v. Theo nghiên cứu của Schnurr và Newing (1997), khởi nghiệp của sinh viên được định nghĩa là quá trình ứng các phẩm chất của doanh nhân vào thực tế đào tạo sinh viên như tinh thần sáng tạo, đối mới hay việc dám chấp nhận rủi ro mạo hiểm với hi vọng đạt được thành quả trong kinh doanh.
Đồng thời đây cũng là hoạt động nhằm phat triém các kiến thức, kỹ năng và tố chất cần có của một doanh nhân trong mỗi sinh viên ở các bối cảnh và môi trường khác nhau nhằm tìm kiếm thành công. Có thể hiểu khởi nghiệp đối với sinh viên chính là hoạt động mà ở đó sinh viên có thể tìm hiểu, học tập và tiếp thu được những kiến thức làm thé nào dé trở thành chủ một doanh nghiệp thành công. Khái niệm ý định khởi nghiệp Có rất nhiều nghiên cứu về ý định ở các khía cạnh khác nhau, trong đó ý định khởi nghiệp cũng là một trong số các dé tài được nhà nghiên cứu quan tâm vì ý nghĩa và sự biến đổi của nó trong các môi trường và hoàn cảnh khác nhau. Theo Conner và Armitage (1998), ý định có thé định nghĩa là động lực dé một ai đó ra đưa quyết định và nỗ lực hành động cho một mục tiêu nào đó theo kế hoạch đã được hình thành từ trước.
Theo quan điểm của Crant (1996), ý định khởi nghiệp được xem như mong muốn và khao khát của một người trong việc có thé tao ra sự nghiệp riêng cho bản thân mình, đạt được hoài bão 5 và ước mơ trong công việc và doanh nghiệp mà mình tạo ra. Hoặc cũng có thê hiểu đơn giản ý định khới nghiệp là sự bắt đầu của một doanh nghiệp (Krueger, Reilly, và Carsrud, 2000). Bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều quan điểm từ các nhà nghiên cứu khác như Krueger (1993); Bird (1998); Gurbuz & Aykol (2008); Kuckertz & Wagner (2010),. nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu cũng đồng ý rang ý định khởi nghiệp đề cập đến sự định hướng, nhận thức về cơ hội tiềm năng từ đó có trên cơ sở các nguồn lực hiện có dé lập kế hoạch và triển khai các hoạt động định hướng khởi nghiệp.
Những người có ý định mạnh mẽ sẽ có nhiều cơ hội dé thành công trong kinh doanh hon so với những người khác. Tuy nhiên ý định sẽ chỉ được diễn ra nếu cá nhân có ý định với thái độ tích cực và niềm tin vào hoạt động đó. Nhìn chung, ý định khởi nghiệp của sinh viên thường xuất phát từ những đam mê, ý tưởng được hình thành của tuổi trẻ và được định hướng, uốn nắn từ các chương trình giáo dục tại trường học (Schwarz & cộng sự, 2009).Tổng quan về các đề tài nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp không chỉ riêng sinh viên mà còn áp dụng với nhiều đối tượng khác nhau có liên quan đến vấn đề này.
Dưới đây là một số nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định khởi nghiệp được tác giả tham khảo cho khóa luận này. Nghiên cứu “The Influence of Personality Traits and Demographic Factors on Social Entrepreneurship Start Up Intentions” — tam dich “Anh hướng cia đặc điểm tính cách và yếu tô nhân khẩu hoc đến ý định khỏi nghiệp xã hội” cua tac gia Joyce Koe Hwee Nga va Gomathi Shamuganathan (2010) dang trén Tap chi Springer. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các đặc điểm của tính cách ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của các doanh nhân xã hội. Nó cũng củng 6 có những phát hiện rằng đặc điểm tính cách có ảnh hưởng đến tinh thần kinh doanh nói chung.
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của năm đặc điểm tính cách lớn đối với các khía cạnh khởi nghiệp xã hội. Kết quả cho thấy các yếu tố về trách nhiệm xã hội, tính bền vững và phát triển nhân cách cần được tích hợp trong chương trình giáo dục kinh doanh dé hỗ trợ các doanh nhân trong xã hội nhận ra giá trị đích thực. Các nhà lãnh đạo tương lai cũng cần được trang bị các kỹ năng khởi nghiệp, đồng thời toát lên tư duy độc lập và phản xạ trong quá trình theo dudi học tập suốt đời. Nghiên cứu này độc đáo do nó tập trung vào các đặc điểm tinh cách đối với tinh thần kinh doanh xã hội hơn là thương mại.
Nghiên cứu này kỳ vọng tạo ra sự thay đôi và kích hoạt một mô hình mới hướng tới tinh thần kinh doanh có trách nhiệm xã hội thông qua sự giáo dục bằng cách nuôi dưỡng các giá tri phát triển bền vững ở các sinh viên trong tương lai. Nghiên cứu “Entrepreneurial intention and startup preparation: A study among business students in Malaysia” — tam dich “y dinh kinh doanh và chuẩn bị khởi nghiệp: Một nghiên cứu giữa các sinh viên kinh doanh tại Malaysia” của tác giả Abdullah AI Mamun (2017) đăng trên Tap chí Journal of Education for Business. Trong nghiên cứu nay, tac giả đề cập đến khái niệm tinh thần kinh doanh được hiéu là một thành phan thiết yếu dé nâng cao khả năng cạnh tranh, tăng trưởng và bền vững kinh tế của một quốc gia trong khi đối mặt với những thách thức ngày càng leo thang của toàn cầu hóa, chang hạn như ty lệ that nghiệp gia tăng. Nghiên cứu của Abdullah AI Mamun (2017) cung cấp băng chứng thực nghiệm về các yêu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp và chuẩn bị khởi nghiệp của sinh viên đại học ở Malaysia.
Những phát hiện này cung cấp cho các học giả và các nhà hoạch định chính sách những hiểu biết sâu sắc về hiệu quả của giáo dục khởi nghiệp của Malaysia do các trường đại học công lập thiết kế và thực hành. Các phát hiện từ nghiên cứu hướng tới mục đích Chính phủ Malaysia có thé áp dụng những dé củng cố các chính sách và 7 chương trình hiện có và xây dựng những chính sách mới dé hỗ trợ các doanh nhân mới tốt nghiệp, trong khi các trường đại học và các tô chức giáo dục đại học khác nên cung cấp các khóa học và chương trình kinh doanh chất lượng cao cho thanh niên Malaysia dé thúc đây khuynh hướng khởi nghiệp. Nghiên cứu “Factors influencing entrepreneutral intention among university students” — tam dich “Các yếu tô ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên dai học” của tac giả Xue Fa Tong và cộng sự (2011) đăng trên Tap chí International Journal of Social Sciences and Humanity Studies. Nghiên cứu cho rang nhiều trường đại học đã giới thiệu giáo duc khởi nghiệp dé thúc đây quan tâm của sinh viên tốt nghiệp dé trở thành doanh nhân trong tương lai.
Do vậy nghiên cứu này đã tổng hợp nhận thức của sinh viên đại học về các yếu tố ảnh hưởng đến việc khởi nghiệp ý định. Thông qua quá trình tìm hiểu và dựa trên cơ sở lý thuyết có liên quan, các tác giả đã xác định các yếu tô hợp lệ được sử dụng cho dự đoán ý định khởi nghiệp bao gồm nhu cầu đạt được thành tích, khát vọng độc lập, nền tảng kinh doanh gia đình và chuẩn mực chủ quan. Những yếu tố này đã được điều chỉnh dé khám phá trên nhận thức của học sinh. Các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua bảng câu hỏi khảo sát trên phạm vi bốn trường đại học khác nhau.
Kết quả cho thấy ý định kinh doanh được dự đoán bởi nhu cầu đạt được thành tích, nền tảng kinh doanh gia đình và các chuẩn mực chủ quan trừ khát vọng độc lập như đã dé xuất ban đầu. Mục đích của nghiên cứu này là tiếp tục khám phá ý định khởi nghiệp (EI) và mở rộng cho sinh viên các trường đại học. Kết quả chỉ ra nhu cầu đạt được thành tích (NA) có tác động đáng ké đến ý định khởi nghiệp (EI).