Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Xuân Hải (Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2023) tiếp cận đề tài khởi nghiệp trong bối cảnh phong trào khởi nghiệp quốc gia được thúc đẩy mạnh mẽ từ các định hướng của Chính phủ. Tác giả dẫn chứng phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ phát động Chương trình "Thanh niên khởi nghiệp" giai đoạn 2016 – 2021 và Ngày hội Thanh niên Khởi nghiệp, khẳng định khởi nghiệp là thước đo thành công của Chính phủ kiến tạo và là động lực nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, bối cảnh thực tiễn thị trường lao động phản ánh áp lực lớn đối với sinh viên tốt nghiệp. Dẫn số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo vào quý II/2018, khóa luận nêu rõ số lượng người thất nghiệp có trình độ từ đại học trở lên là 126,9 nghìn người (tỷ lệ 2,47%); trình độ cao đẳng có 70,8 nghìn người thất nghiệp (tỷ lệ 3,82%, cao nhất); trình độ sơ cấp nghề có 23,6 nghìn người thất nghiệp (tỷ lệ tăng 1,31%). Dù tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm có trình độ cao vẫn hiện hữu, phần lớn sinh viên ra trường vẫn hướng đến mục tiêu tìm việc làm ổn định làm thuê thay vì chủ động thành lập doanh nghiệp. Sinh viên đối mặt với tâm lý lo ngại về kinh nghiệm non kém, thiếu mạng lưới quan hệ, hạn chế nguồn lực tài chính và thiếu định hướng triển khai cụ thể.
Xuất phát từ thực trạng trên, nghiên cứu xác lập các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Xác định các yếu tố chung ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp, từ đó làm rõ và phân biệt sự khác biệt giữa các yếu tố tác động chung với các yếu tố đặc thù đối với sinh viên.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Nhân tố nào ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội?
- Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay?
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Phạm vi nội dung: Xem xét các yếu tố tâm lý, nhận thức, xã hội và đặc điểm cá nhân chi phối ý định khởi nghiệp của sinh viên đại học.
- Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội, tập trung khảo sát sinh viên tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp và khảo sát thực địa diễn ra từ ngày 01 tháng 7 đến ngày 31 tháng 7 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận được xây dựng dựa trên Lý thuyết Hành động Hợp lý (TRA) và Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) của Fishbein và Ajzen (1975). Trong mô hình TPB nguyên bản, ý định hành vi chịu sự chi phối của ba tiền đề cốt lõi: Thái độ đối với hành vi (Attitude towards the Behavior - AT), Chuẩn mực chủ quan (Subjective Norm - SN), và Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control - PBC). Tác giả mở rộng khung lý thuyết TPB bằng việc tích hợp thêm ba nhân tố độc lập từ các nghiên cứu thực nghiệm tiền nhiệm: Nhận thức rủi ro (Perceived Risk - PR), Nhận thức về sự thành công (Perceived Success - PS), và Tính cách cá nhân (Personality Traits - PT).
Các khái niệm nền tảng trong khóa luận bao gồm:
- Khởi nghiệp (Entrepreneurship): Được hệ thống hóa qua quan điểm của Schumpeter (1947), Drucker (1985, 2011), Minniti và Naudé (2010), O'Connor (2013). Ở góc độ sinh viên, tác giả sử dụng định nghĩa của Schnurr và Newing (1997), coi khởi nghiệp là quá trình đưa các phẩm chất doanh nhân (sáng tạo, đổi mới, chấp nhận rủi ro) vào đào tạo và phát triển năng lực để làm chủ doanh nghiệp.
- Ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial Intention): Tiếp cận từ các nghiên cứu của Crant (1996), Conner và Armitage (1998), Krueger, Reilly và Carsrud (2000), biểu thị động lực, mong muốn lập kế hoạch và cam kết hành động để tự tạo dựng doanh nghiệp.
Về phương pháp tiếp cận, tác giả chọn phương pháp nghiên cứu định tính (Qualitative Research) theo khung hướng dẫn của Denzin và cộng sự (2005) cùng quy trình của Creswell (2014), kết hợp tổng hợp tài liệu thứ cấp. Tác giả lý giải việc sử dụng phương pháp định tính nhằm khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu chạy mô hình định lượng (con số thuần túy không giải thích được bản chất nguyên nhân tâm lý, xã hội đằng sau các mối liên hệ).
Quy trình phân tích dữ liệu định tính được xử lý qua 3 giai đoạn theo mô hình của Miles và Huberman (1994) và O'Dwyer (2004):
- Tinh giản dữ liệu (Data reduction): Đọc văn bản, chia đoạn thông tin, gắn nhãn mã sơ bộ, giảm chồng chéo từ 24 mã ban đầu xuống còn 5–7 chủ đề/mã bao trùm đại diện cho các nhân tố độc lập và phụ thuộc.
- Trình bày dữ liệu (Data display): Hệ thống hóa dữ liệu dưới dạng sơ đồ cây để phát triển luận điểm logic.
- Phân tích dữ liệu (Data analysis): Tường thuật dữ liệu theo tuyến câu chuyện, đối chiếu phát hiện mâu thuẫn/nghịch lý, tái cấu hình chủ đề và khái quát hóa bức tranh lớn.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua biểu mẫu khảo sát trực tuyến Google Form, gồm 3 phần: Giới thiệu mục đích; Nội dung chính (thông tin nhân khẩu học và các câu hỏi tình huống, câu hỏi mở theo tiêu chí mã hóa); Kết thúc mở. Kỹ thuật phân tích được xử lý kết hợp qua phần mềm bảng tính Excel và mã hóa thủ công. Cỡ mẫu hợp lệ thu được là N = 50 sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
Chương 1 tổng hợp các tài liệu học thuật trong và ngoài nước nhằm thiết lập nền tảng lý thuyết và phát hiện khoảng trống nghiên cứu.
Ở nhóm nghiên cứu quốc tế, tác giả phân tích:
- Joyce Koe Hwee Nga và Gomathi Shamuganathan (2010): Phân tích ảnh hưởng của năm đặc điểm tính cách lớn đến ý định khởi nghiệp xã hội.
- Abdullah Al Mamun (2017): Nghiên cứu trên sinh viên kinh doanh tại Malaysia, cung cấp bằng chứng về vai trò của giáo dục khởi nghiệp đại học đối với sự chuẩn bị khởi sự.
- Xue Fa Tong và cộng sự (2011): Khảo sát sinh viên 4 trường đại học tại Malaysia; kết quả cho thấy nhu cầu đạt được thành tích, nền tảng kinh doanh gia đình và chuẩn mực chủ quan tác động tích cực đến ý định khởi nghiệp, trong khi khát vọng độc lập không có mối liên hệ đáng kể.
Ở nhóm nghiên cứu trong nước, tác giả điểm qua:
- Nguyễn Phương Mai, Lưu Thị Minh Ngọc, Trần Hoàng Dũng (2018): Khảo sát 434 nữ sinh viên quản trị kinh doanh tại Hà Nội, chỉ ra tác động của hỗ trợ đào tạo, gia đình/bạn bè, kiến thức/kinh nghiệm, thái độ cá nhân, tính cách và kiểm soát hành vi, song bị giới hạn vì cỡ mẫu nhỏ và chỉ phân tích tác động một chiều.
- Nguyễn Hải Quang và Cao Nguyễn Trung Cường (2017): Khảo sát 361 sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế - Luật; mô hình giải thích được 37% sự biến thiên của ý định khởi sự doanh nghiệp và chỉ ra sự khác biệt giữa các năm học.
- Đỗ Thị Hoa Liên (2016): Khảo sát 315 sinh viên Trường Đại học Lao động – Xã hội (TP.HCM); trong 5 yếu tố nghiên cứu, giáo dục đào tạo tác động mạnh nhất, kinh nghiệm đứng thứ hai, còn nguồn vốn có tác động thấp nhất.
Tác giả chỉ ra hai khoảng trống nghiên cứu chính: phần lớn nghiên cứu đi trước sử dụng phương pháp định lượng thuần túy chỉ đưa ra số liệu thống kê mà thiếu việc đi sâu lý giải căn nguyên; đồng thời các khảo sát thường dùng cỡ mẫu hạn chế về không gian, thời gian và phạm vi đối tượng. Từ đó, tác giả đề xuất khung mô hình nghiên cứu gồm 6 giả thuyết (H1 đến H6) tương ứng với tác động tích cực của Thái độ khởi nghiệp (AT), Chuẩn mực chủ quan (SN), Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC), Nhận thức rủi ro (PR), Nhận thức sự thành công (PS) và Tính cách cá nhân (PT) đến Ý định khởi nghiệp (INT).
Chương 2: Thực trạng của hoạt động khởi nghiệp
Chương 2 phác thảo bức tranh thực tiễn khởi nghiệp tại Việt Nam và địa bàn Hà Nội.
Tại Việt Nam, chỉ số hoạt động kinh doanh ở giai đoạn khởi sự (TEA) năm 2017 đạt 23,3% (theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam 2017/2018 của VCCI). Về chính sách, ngày 30/10/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1665/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" với mục tiêu đến năm 2020 có 100% các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung cấp triển khai hỗ trợ người học khởi nghiệp. Mặc dù vậy, khảo sát của VCCI chỉ ra 66,6% sinh viên biết đến hoạt động khởi nghiệp nhưng có tới 62% cho rằng các phong trào khởi nghiệp hiện nay chủ yếu mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả thực tế. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh toàn cầu năm 2020 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đạt 69,8/100 điểm, xếp hạng 70/190 nền kinh tế (thứ 5 Đông Nam Á), song chỉ số khởi sự kinh doanh xếp thứ 115/190 (phải thực hiện 8 thủ tục với thời gian trung bình 16 ngày).
Về dòng vốn đầu tư startup năm 2018, toàn thị trường ghi nhận 92 thương vụ với tổng vốn 889 triệu USD (tăng gấp 3 lần so với 291 triệu USD của năm 2017). Trong đó, 10 thương vụ lớn nhất chiếm 734 triệu USD (điển hình như Yeah1 đạt 100 triệu USD, Sendo đạt 51 triệu USD, Topica đạt 50 triệu USD).
| Lĩnh vực khởi nghiệp |
Số vốn đầu tư năm 2018 (triệu USD) |
| Công nghệ tài chính (Fintech) |
117 |
| Thương mại điện tử |
104 |
| Công nghệ du lịch |
64 |
| Công nghệ giáo dục (Edtech) |
50 |
| Logistics |
50 |
Tại Hà Nội, các chương trình hỗ trợ sinh viên được Thành đoàn Hà Nội và các trường đại học đẩy mạnh trong năm 2020 qua các dự án thực tế như: xe máy chữa cháy rừng, gạch lát hè đường từ nylon rác thải, đèn chiếu sáng thông minh dùng năng lượng mặt trời, mô hình Green Life - đổi rác lấy quà, vật liệu xanh GPN, máy lọc không khí tự chế. Dẫn số liệu từ nghiên cứu của Hoàng Thị Huyền, Nguyễn Thị Cúc, Ngô Châu Bình Dương (2021), tác giả chỉ ra: 33,94% sinh viên Hà Nội tự đưa ra quyết định khởi nghiệp sau tốt nghiệp; 51,25% có hứng thú với khởi nghiệp; nguồn hỗ trợ khởi nghiệp đến từ bạn bè (36,75%), gia đình (24,54%) và nhà trường (29,49%).
Đánh giá tổng hợp cơ hội và thách thức của sinh viên Hà Nội:
- Cơ hội: Nhận được sự bảo trợ chính sách (Đề án 1665/QĐ-TTg); các sân chơi học thuật thường niên (Cuộc thi Học sinh sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp, Techfest); ưu thế tuổi trẻ, nhiệt huyết và ít áp lực phụ thuộc gia đình; môi trường học tập tại các trường đại học top đầu có đội ngũ chuyên gia hướng dẫn.
- Thách thức: Nguy cơ sao chép ý tưởng do tác động của công nghệ làm vòng đời dự án bị rút ngắn (sinh viên thường rập khuôn các mô hình quán trà sữa, đồ ăn vặt); hạn chế nguồn vốn và khó tiếp cận vốn mạo hiểm; thiếu hụt kinh nghiệm thực tế; rào cản tạo dựng uy tín sản phẩm mới trước khách hàng; thiếu hụt kiến thức pháp lý và khả năng phân tích môi trường kinh doanh.
Chương 3: Phương pháp và kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết về mẫu khảo sát, quá trình mã hóa tiêu chí và kết quả khảo sát định tính 50 sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
| Đặc điểm nhân khẩu học |
Phân loại |
Tần suất (người) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính |
Nam |
34 |
68 |
|
Nữ |
16 |
32 |
| Nhóm ngành học |
Khối ngành kinh tế |
24 |
48 |
|
Kỹ thuật, công nghệ, xây dựng |
14 |
28 |
|
Nhóm ngành khác |
12 |
24 |
| Năm học |
Năm nhất |
6 |
12 |
|
Năm hai |
6 |
12 |
|
Năm ba |
10 |
20 |
|
Năm cuối |
28 |
56 |
| Kinh nghiệm khởi sự |
Chưa tham gia khởi nghiệp bao giờ |
42 |
84 |
|
Đã từng khởi nghiệp |
4 |
8 |
|
Đang thực hiện dự án khởi nghiệp |
4 |
8 |
| Đào tạo khởi nghiệp |
Đã học môn học khởi nghiệp |
32 |
64 |
|
Chưa được học |
18 |
36 |
Bảng mã hóa tiêu chí (Bảng 3.2) thiết lập các mã quan sát: AT1 đến AT4 (Thái độ khởi nghiệp); SN1 đến SN3 (Chuẩn mực chủ quan); PBC1 và PBC2 (Nhận thức kiểm soát hành vi); PR1 đến PR4 (Nhận thức rủi ro); PS1 đến PS3 (Nhận thức sự thành công); PT1 đến PT4 (Tính cách cá nhân); INT1 đến INT4 (Ý định khởi nghiệp).
Kết quả phân tích định tính từ các bản phỏng vấn cho thấy:
- Thái độ khởi nghiệp (AT): Tác động tích cực mạnh mẽ đến ý định khởi nghiệp. 46/50 người (tỷ lệ 92%) khẳng định sẽ khởi nghiệp nếu nhận thấy cơ hội và có đủ điều kiện nguồn vốn. Sinh viên thể hiện sự hào hứng (các câu trả lời AT1, AT3, AT7), nhìn nhận khởi nghiệp là cơ hội thử thách, rèn luyện bản thân và đóng góp việc làm cho xã hội.
- Chuẩn mực chủ quan (SN): Có ảnh hưởng tích cực lớn. Do đặc trưng văn hóa tập thể và truyền thống gia đình Á Đông, sinh viên chịu áp lực và phụ thuộc vào định hướng của bố mẹ, người thân (điển hình qua phản hồi SN1, SN19). Một số trường hợp sinh viên sẵn sàng từ bỏ ý định khởi sự để chọn công việc văn phòng nếu gia đình phản đối.
- Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC): Trái với các nghiên cứu trước đây (như Mumtaz et al., 2012; Maes et al., 2014), kết quả phỏng vấn sinh viên ĐHQGHN cho thấy nhận thức kiểm soát hành vi không có nhiều tác động rõ rệt đến ý định khởi nghiệp.
- Nhận thức rủi ro (PR), Nhận thức thành công (PS) và Tính cách cá nhân (PT): Các trích đoạn mã hóa phản ánh nhận thức về rủi ro tài chính, niềm tin vào năng lực cá nhân và các nét tính cách chủ động, kiên trì đều tham gia định hình mức độ sẵn sàng khởi sự của sinh viên.
Chương 4: Thảo luận và đề xuất giải pháp
Chương 4 dành dung lượng thảo luận chi tiết về các kết quả tìm thấy ở Chương 3, đối chiếu với các mô hình lý thuyết và thực tiễn để rút ra hàm ý:
- Thảo luận yếu tố: Phân tích sâu sắc sự chi phối của thái độ, chuẩn mực xã hội, vai trò mờ nhạt của kiểm soát hành vi, cùng tác động hai chiều của nhận thức rủi ro và thành công.
- Hàm ý nghiên cứu: Cung cấp cơ sở cho các cơ sở giáo dục đại học và cơ quan quản lý trong việc thiết kế chính sách hỗ trợ; nhấn mạnh rằng việc trang bị kiến thức đơn thuần không đủ để thúc đẩy sinh viên nếu thiếu sự hậu thuẫn tâm lý từ gia đình và xã hội.
- Đề xuất giải pháp: Tác giả xây dựng các nhóm giải pháp nhằm nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội, tập trung vào: đổi mới chương trình đào tạo khởi nghiệp trong trường đại học theo hướng thực hành và cọ xát thực tế; tăng cường kết nối mạng lưới ươm tạo doanh nghiệp; tạo cơ chế hỗ trợ tiếp cận vốn mồi cho sinh viên; nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng nhằm tạo lập môi trường ủng hộ người trẻ khởi sự kinh doanh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận rút ra các phát hiện nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu khảo sát thực nghiệm:
- Xác thực mức độ tác động của các nhân tố: Khẳng định Thái độ khởi nghiệp (AT) và Chuẩn mực chủ quan (SN) là hai nhân tố có tác động tích cực mạnh mẽ nhất đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ĐHQGHN. Tỷ lệ 92% (46/50 sinh viên) khẳng định sẵn sàng khởi nghiệp khi có điều kiện về cơ hội và vốn; 84% sinh viên chưa từng khởi nghiệp nhưng thể hiện mức độ quan tâm cao đến hoạt động này.
- Phát hiện khác biệt về lý thuyết: Chỉ ra yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) không có nhiều tác động đến ý định khởi nghiệp của nhóm sinh viên khảo sát, tạo nên sự khác biệt so với các phát biểu chuẩn hóa của lý thuyết TPB và một số nghiên cứu định lượng trước đây.
- Đóng góp về phương pháp và học thuật: Khóa luận tự xác định đã khắc phục được hạn chế "chỉ đưa ra con số vô hồn" của các nghiên cứu định lượng đi trước thông qua việc triển khai quy trình phân tích định tính 3 giai đoạn của Miles và Huberman (1994) và O'Dwyer (2004). Việc trích dẫn trực tiếp các phản hồi phỏng vấn sâu giúp soi tỏ động cơ tâm lý bên trong, đặc biệt là ảnh hưởng của yếu tố gia đình truyền thống Việt Nam đối với quyết định khởi sự của sinh viên.
- Giải pháp đề xuất: Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với bối cảnh Hà Nội: hoàn thiện cơ chế triển khai Đề án 1665/QĐ-TTg; cải tiến môn học Khởi nghiệp vượt ra ngoài khuôn khổ lý thuyết thuần túy; thành lập các quỹ vốn mồi nhỏ dành riêng cho dự án sinh viên; xây dựng kênh đối thoại định hướng nhằm giảm thiểu rào cản tâm lý từ phía gia đình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự nêu rõ các hạn chế nghiên cứu chính:
- Quy mô mẫu: Mẫu nghiên cứu định tính còn nhỏ (N = 50 sinh viên), do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực hiện của tác giả.
- Phạm vi khảo sát: Dữ liệu chỉ được thu thập tập trung đối với sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội trong khung thời gian hẹp (01/07/2023 đến 31/07/2023), do đó tính đại diện bao quát cho toàn bộ cộng đồng sinh viên các trường đại học, cao đẳng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội chưa cao.
- Đo lường mức độ: Do sử dụng công cụ Google Form và kỹ thuật xử lý định tính/phân tích thủ công kết hợp Excel, nghiên cứu chưa đi sâu lượng hóa chính xác mức độ tác động toán học hay trọng số phần trăm đóng góp của từng nhân tố như các mô hình hồi quy tuyến tính hay mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở: Mở rộng cỡ mẫu khảo sát lên quy mô lớn hơn; mở rộng địa bàn khảo sát sang nhiều cơ sở giáo dục đại học khác nhau tại Hà Nội (các trường chuyên ngành kỹ thuật, nghệ thuật, y dược); kết hợp phương pháp hỗn hợp (định tính kết hợp kiểm định định lượng quy mô lớn) để kiểm tra độ tin cậy và nâng cao tính khái quát của mô hình.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo cụ thể đối với:
- Sinh viên và học viên cao học: Đặc biệt là người học các khối ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Kinh tế chính trị và Xã hội học đang tìm kiếm tài liệu tham khảo để xây dựng đề cương nghiên cứu về hành vi khởi sự kinh doanh. Khóa luận cung cấp một mô hình phân tích định tính hoàn chỉnh từ bảng mã hóa tiêu chí (Bảng 3.2), quy trình tinh giản dữ liệu 4 bước đến phương pháp cấu hình chủ đề theo O'Dwyer (2004).
- Giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục: Cung cấp tư liệu thực chứng về tâm lý, nguyện vọng và rào cản của sinh viên; là cơ sở thực tiễn để các trường đại học tại Hà Nội đánh giá lại hiệu quả triển khai Đề án 1665/QĐ-TTg, từ đó đổi mới cấu trúc môn học Khởi nghiệp và hoàn thiện mạng lưới ươm tạo doanh nghiệp sinh viên.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và đối tượng khảo sát cụ thể là ai?
Khóa luận tiến hành khảo sát trên cỡ mẫu N = 50 sinh viên thuộc Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong đó có 34 nam (68%), 16 nữ (32%); phân theo năm học có 56% sinh viên năm cuối (28 người), 20% sinh viên năm ba (10 người), còn lại là sinh viên năm nhất và năm hai (mỗi khối 6 người, chiếm 12%).
Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết gốc nào và mở rộng thêm các yếu tố nào?
Tác giả sử dụng Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (TPB) của Fishbein và Ajzen (1975) làm nền tảng cốt lõi với 3 yếu tố: Thái độ khởi nghiệp (AT), Chuẩn mực chủ quan (SN), Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC). Mô hình được tác giả mở rộng thêm 3 nhân tố độc lập gồm: Nhận thức rủi ro (PR), Nhận thức về sự thành công (PS) và Tính cách cá nhân (PT).
Phương pháp phân tích dữ liệu định tính trong khóa luận được triển khai như thế nào?
Tác giả áp dụng mô hình phân tích định tính 3 giai đoạn của Miles và Huberman (1994) và O'Dwyer (2004): (1) Tinh giản dữ liệu qua 4 bước (mã hóa rút gọn từ 24 mã thành các mã bao trùm); (2) Trình bày dữ liệu bằng sơ đồ cây; (3) Phân tích dữ liệu theo 4 bước tường thuật, phát hiện mâu thuẫn và cấu hình chủ đề. Quá trình xử lý thực hiện qua phần mềm bảng tính Excel kết hợp mã hóa thủ công.
Yếu tố nào trong mô hình lý thuyết TPB cho kết quả khác biệt so với các nghiên cứu trước?
Yếu tố Nhận thức kiểm soát hành vi (PBC). Trong khi các nghiên cứu tiền nhiệm thường ghi nhận PBC tác động tích cực đáng kể đến ý định khởi nghiệp, kết quả khảo sát định tính đối với 50 sinh viên ĐHQGHN trong khóa luận này lại chỉ ra PBC không có nhiều tác động đến ý định khởi sự của sinh viên.
Bối cảnh đầu tư vào startup Việt Nam năm 2018 được tác giả ghi nhận qua những số liệu nào?
Theo khóa luận, năm 2018 thị trường startup Việt Nam ghi nhận 92 thương vụ với tổng vốn đầu tư đạt 889 triệu USD (tăng gấp 3 lần so với mức 291 triệu USD của năm 2017). Riêng 10 thương vụ lớn nhất đã đạt 734 triệu USD (tiêu biểu như Yeah1 100 triệu USD, Sendo 51 triệu USD, Topica 50 triệu USD). Lĩnh vực thu hút đầu tư cao nhất là Công nghệ tài chính (117 triệu USD) và Thương mại (104 triệu USD).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Xuân Hải đã giải quyết được các mục tiêu đặt ra thông qua việc nhận diện và phân tích sâu sắc các nhân tố chi phối ý định khởi nghiệp của sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Bằng việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu định tính và khung phân tích dữ liệu 3 giai đoạn chặt chẽ, nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò quyết định của thái độ cá nhân và chuẩn mực xã hội, đồng thời chỉ ra điểm khác biệt thực nghiệm về nhận thức kiểm soát hành vi trong bối cảnh sinh viên Thủ đô. Các số liệu thực trạng và hệ thống giải pháp đề xuất trong công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác hoạch định chính sách giáo dục khởi nghiệp và hỗ trợ thanh niên lập nghiệp tại Việt Nam.