Chương 1. Cơ sở lý luận về xã hội hoá giáo dục Tiểu học Chương 2. Thực trạng công tác xã hội hoá giáo dục Tiểu học ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Các biện pháp tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục Tiểu học ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao, là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một trong những nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Giáo dục có liên quan trực tiếp đến mỗi người và lợi ích của mọi người trong xã hội. Quan tâm, đầu tư, huy động mọi nguồn lực cho phát triển giáo dục là sách lược lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều cho thấy xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nước có nền công nghiệp hiện đại - kinh tế phát triển cao.
Hoạt động xã hội hoá giáo dục đã xuất hiện và có bề dày lịch sử trong các chế độ xã hội và thể chế chính trị. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xã hội hoá giáo dục đã có từ lâu, đó không phải là vấn đề hoàn toàn mới nếu xem xét nó về bản chất. Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nơi trên thế giới đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố công tác giáo dục gắn liền với phát triển cộng đồng với mục đích vì lợi ích cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây chính là các điều kiện quan trọng để phát huy các nguồn lực cho giáo dục đào tạo.
Trải qua các giai đoạn trong lịch sử, từ thời phong kiến cho đến lịch sử Việt Nam cận – hiện đại, việc chăm lo vật chất, khích lệ cổ vũ người học, tôn vinh Người Thầy trong xã hội và những trò giỏi thành đạt đã trở thành truyền thống, đạo lý tốt đẹp của Dân tộc Việt Nam ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xoá nạn mù chữ. 7 Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, giáo dục được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu, khẳng định giáo dục là động lực, là nguồn lực để thúc đẩy kinh tế văn hóa xã hội phát triển với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân". Tại các kỳ Đại hội Đảng, các Hội nghị của Ban chấp hành Trung ương đều khẳng định giáo dục - đào tạo là động lực, là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội; xác định “Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục - đào tạo”.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng, vấn đề XHHGD tiếp tục được khẳng định cần phải đẩy mạnh hơn nữa. Phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, trong điều kiện nước ta đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã và đang đặt ra cho chúng ta những yêu cầu mới. Giáo dục cũng phải thay đổi để thích ứng với những điều kiện thay đổi của xã hội và thời đại. Tuy nhiên, do nước ta chịu ảnh hưởng bởi quan niệm và cách làm bao cấp trước đây đối với giáo dục và đào tạo nên tư duy quản lý vẫn chưa kịp đổi mới.
Vẫn còn phổ biến tình trạng hiểu xã hội hoá giáo dục chỉ là huy động vốn trong nhân dân. Để khắc phục quan niệm phiến diện này, cần phải hiểu xã hội hoá giáo dục ngoài việc huy động vốn còn là việc huy động tối đa nguồn lực, bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực, trong đó quan trọng là trí tuệ và tâm huyết của nhân dân vào sự nghiệp giáo dục. Xã hội hoá giáo dục tuy là phong trào vận động nhân dân làm giáo dục, nhưng để đảm bảo tính bền vững và đảm bảo cho phong trào luôn luôn phát triển đúng hướng thì phải được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, phải được thể chế hoá, làm cho sự tham gia của xã hội vào công tác giáo dục được thực hiện theo những quy định có tính pháp lí, đảm bảo dân chủ và công bằng, đó chính là các biện pháp cần phải thực hiện trong quản lý công tác xã hội hoá giáo dục cũng như quản lý các nguồn lực trong xã hội hoá giáo dục. Ở nước ngoài Các công trình nghiên cứu về XHHGD ở các nước: * Ở Thái Lan Thái Lan đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa các loại hình giáo dục, các loại hình trường nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế văn hóa, xã hội; thực hiện chính sách đa dạng hóa các loại hình giáo dục đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho người lao động, bởi tỷ lệ người lao động có trình độ của Thái Lan chưa cao; thực hiện chiến lược "Học tập suốt đời - chính sách và triển vọng" để tăng cường kiến thức và sự hiểu biết và xây dựng thái độ đúng đắn về học tập suốt đời; Chỉ định cơ quan điều phối về học tập suốt đời; xây dựng kế hoạch thúc đẩy học tập suốt đời ở mọi cấp chính quyền, từ quốc gia tới địa phương; cung cấp một số loại cơ sở hạ tầng học tập; khuyến khích sự tham gia của tất cả các lĩnh vực hoặc tạo lập và thúc đẩy mạng lưới quan hệ đối tác học tập suốt đời để liên tục hợp tác và phát triển; tăng cường hợp tác giữa các mạng lưới đối tác; thúc đẩy học tập suốt đời ở mỗi gia đình.
* Ở Nhật Bản Nhật Bản luôn tích cực cải cách hệ thống giáo dục, coi trọng việc phát triển tiềm năng của con người, xây dựng hệ thống các nguyên tắc phát triển giáo dục với chính sách: Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho giáo dục. Thượng Nghị viện Nhật đã thông qua 3 dự luật về cải cách giáo dục đó là: Luật Giáo dục trường học; Luật Quản lý giáo dục địa phương và Luật Giáo dục xã hội. Nhật Bản là nước đã thành công trong việc thực hiện chính sách bình đẳng và quyền được học cho mọi người, giáo dục không phân biệt giai cấp, địa vị, tôn giáo, coi trọng việc phát hiện nhân tài và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, nhân văn hóa môi trường giáo dục, đưa giáo dục Nhật Bản tiến kịp thế giới. 9 * Ở Mỹ Chính phủ Mỹ đã thực hiện một cuộc Cách mạng về chuẩn hóa giáo dục (Standanrds revolution).
Để làm được điều này, một trong những giải pháp mà Chính phủ quan tâm là thực hiện chủ trương đa dạng hóa, phát triển hình thức trường học công – tư. Giáo dục Mỹ đặc biệt quan tâm xây dựng nền giáo dục dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin, xã hội tri thức để đáp ứng và đón đầu sự phát triển của kinh tế thị trường, hướng tới các mục tiêu: Mọi người đều có cơ hội học tập suốt đời, tiến tới thực hiện nền giáo dục đại chúng, với chính sách trao quyền cho địa phương quản lý giáo dục nhà trường và đa dạng hóa các loại hình giáo dục: Giáo dục chính quy, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xã hội, giáo dục trực tuyến. * Ở Singapore Singapore là một trung tâm thương mại, tài chính và hiện nay là trung tâm giáo dục của các nước trong khu vực, là quốc gia đảm bảo chất lượng giáo dục theo chuẩn quốc tế và khu vực. Singapore là nước thành công trong công việc phát huy nguồn lực từ xã hội và quốc tế trong việc xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục của quốc gia.
Khẩu hiệu của toàn quốc gia là: “Nhà trường tư duy, quốc gia học tập”. Có thể khẳng định rằng, mặc dù bản chất của giáo dục ở các nước có khác nhau nhưng đều có điểm chung là huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục. Ở những nước tiên tiến, việc quan tâm đầu tư cho giáo dục qua quá trình huy động sức mạnh của nhà nước và các tầng lớp xã hội, nâng cao mặt bằng tri thức, đưa dân trí ngang tầm thời đại để con người làm chủ nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp. Ở những nước đang phát triển, việc huy động các nguồn lực cho giáo dục là phương thức tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm phong phú tài năng, trí tuệ để phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Việc đầu tư đúng mức cho con người sẽ tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển bền vững ở các nước đang phát triển. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, tuy thuật ngữ XHHGD mới xuất hiện nhưng tư tưởng và nội dung của nó đã có từ rất sớm, ngay từ buồi đầu giành Độc lập Dân tộc, đó là công cuộc “Diệt giặc đói”, “Xóa mù chữ” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động. Người xác định 3 nguyên tắc cơ bản của nền Giáo dục nước nhà là: “Đại chúng hóa, Dân tộc hóa, khoa học hóa tôn chỉ phụng sự lý tưởng Quốc gia và dân chủ” [9]. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động Xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường: “Xã hội hoá các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội và sự phát triển đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của Nhân dân”[8].
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, trong báo cáo Chính trị đã nhấn mạnh: “Phát triển Giáo dục phải thực sự là Quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền Giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập Quốc tế. Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHH giáo dục, đào tạo trên cả 3 phương diện: Động viên các nguồn lực xã hội, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; Khuyến khích các hoạt động khuyến học khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân học tập suốt đời”.