MỞ ĐẦU 15 Chương này giới thiệu lý do hình thành đề tài, tính cấp thiết của đề tài, qua đó nêu lên mục tiêu mà đề tài hướng đến. Từ đó định hướng đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Mô tả khái quát diễn biến của thị trường chứng khoán qua các năm từ năm 2006 đến năm 2014 Chương 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài, những nghiên cứu có liên quan đến tâm trạng của nhà đầu tư. Thiết lập mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thiết.
Chương 4: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu mà tác giả tiến hành với đề tài đã chọn, các giả thuyết và các biến của mô hình nghiên cứu, cách thức thu thập và tính toán dữ liệu nghiên cứu cũng như trình tự các bước nghiên cứu. Chương 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Phân tích kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả nghiên cứu. Kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả thu được. Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu từ dữ liệu đã thu thập được thông qua phân tích thống kê dựa trên phần mềm stata, từ đó đưa ra các kết luận về sự ảnh hưởng của tâm trạng nhà đầu tư tới suất sinh lợi cổ phiếu.
Ngoài ra, luận văn cũng nêu lên những đóng góp cũng như hạn chế của đề tài và đề ra hướng nghiên cứu tiếp theo. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Khi nghiên cứu về hành vi nhà đầu tư hay những quyết định đầu tư mà trong đó phần lớn bị chi phối bởi những tâm lí con người, cốt lõi là tìm ra bằng chứng chứng minh rằng thị trường Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Trong giai đoạn hiện nay, với một thị trường còn non trẻ như thị trường chứng khoán Việt Nam, việc nghiên cứu về tài chính hành vi sẽ giúp đỡ một phần nào cho việc cải thiện và nâng cao tính hợp lý của quyết định đầu tư. Luôn có một chân lý tồn tại trong thị trường chứng khoán, đó là bản chất con người không bao giờ thay đổi, luôn có lòng tham, sự sợ hãi và cả sự quá tự tin.
Những thị trường chứng khoán mạnh nhất như NewYork, London, Hong Kong là những thị trường nhộn nhịp vì luôn có mọi loại nhà đầu tư với những toan tính và tâm lí khác nhau. Hay nói cách khác, bất cứ khi nào bạn bán cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổ phiếu đó. Người bán nghĩ cổ phiếu đó sẽ giảm giá, người mua nghĩ nó sẽ lên. Hoặc người bán hoặc người mua sẽ đúng nhưng chắc chắn phải thông qua sự tương tác của những tâm lý và đánh giá khác nhau như vậy thì thị trường mới nhộn nhịp đông kẻ mua, nhiều người bán.
Sự sôi động của thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua cũng đã phản ánh phần nào chân lý ấy và giai đoạn bùng nổ chứng khoán năm 2007 –2008 và giai đoạn hồi phục từ năm 2012 – 2014 là một bằng chứng rõ nét của tâm lý quá tự tin trong quyết định của nhà đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường. 17 Giai đoạn 2006 – 2007 Nguồn: www.1 Biểu đồ VN-Index giai đoạn 2006-2007 Năm 2006, chỉ số thị trường chứng khoán tăng 145%. Điều này dễ hiểu vì thị trường chứng khoán Việt Nam xuất phát từ khởi điểm khá thấp, 22 công ty niêm yết trong hai năm với vốn hóa thị trường xấp xỉ 144 triệu đô-la Mỹ tính đến đầu năm 2006. Tiếp nối thành công của năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục có những bước chuyển mình trong năm 2007.
Với những phát triển vượt bậc về quy mô và chất lượng, thị trường chứng khoán đã chứng minh vị thế và tầm ảnh hưởng đáng phải có của nó với đời sống kinh tế đất nước. Niềm tin được thể hiện đặc biệt mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán trong thời gian này. Giới đầu tư ngoài nước liên tục huy động vốn và chuyển tiền vào thị trường chứng khoán để chuẩn bị cho những kế hoạch đầu tư dài hạn với quy mô lớn. Nhà đầu tư và các công ty trong nước cũng tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực tài chính chứng khoán.
Thị trường chứng khoán chính thức có một bước nhảy vọt cả về số lượng các công ty niêm yết, chất lượng hàng hóa và quy mô giao dịch. Làn sóng các công ty niêm yết cuối năm 18 2006 nhằm hưởng ưu đãi thuế(2) đã không gây ra khủng hoảng như một số chuyên gia dự báo, mà trái lại, đã trở thành một lực đẩy tích cực. Tính thanh khoản tăng cao chưa từng thấy, đưa thị trường vào giai đoạn phát triển bùng nổ. Số lượng tài khoản nhà đầu tư cũng như giá trị giao dịch tăng từng phiên.
Nếu như đầu năm 2006, giá trị giao dịch mỗi phiên chỉ vài chục tỉ đồng thì năm 2007 con số này đạt khoảng 1. Tổng hợp một số thông tin cơ bản trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2006-2007 Chỉ tiêu Năm Năm 2006 2007 Quy mô vốn hóa (tỷ đồng) 221.000 Quy mô vốn hóa/GDP 22,7% 44% Số công ty niêm yết 193 253 Tỉ suất sinh lời/năm VN-Index 246% 23,31% HNX Index 172% 33,2% Khối lượng giao dịch (triệu/phiên) 3,9 11,5 (Tốc độ tăng %) (195%) Số lượng tài khoản 100.000 (Tốc độ tăng %) (150%) Số lượng tài khoản nước ngoài 3.143 (Tốc độ tăng %) (180%) Vốn nhà đầu tư nước ngoài (tỷ đô- 2 5 la Mỹ) Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Theo Công văn số 10997/CV-BTC của Bộ Tài chính ngày 8-9-2006, các doanh nghiệp niêm yết và đăng (2) ký giao dịch trên thị trường chứng khoán sau ngày 31-12-2006 được hưởng ưu đãi miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm liên tiếp kể từ ngày lên sàn. 19 Khởi đầu năm 2007 với con số 751,77 điểm, chỉ sau hơn ba tháng VN-Index đã vọt lên đỉnh 1170,67 điểm ngày 12/3. Đây chính là giai đoạn thăng hoa nhất trong lịch sử tám năm vận hành của thị trường chứng khoán.
Trái “bong bóng chứng khoán” trở thành chiếc túi không đáy hút liên tục các nguồn tiền khác nhau. Chặng đường tới đỉnh bắt đầu với đợt tăng giá của các công ty lớn có kết quả kinh doanh tốt. Thị trường được đẩy lên khỏi mức 1. Giá nhiều cổ phiếu tăng không ngừng khiến các chỉ số phân tích cơ bản bị bỏ lại đằng sau đủ để nhiều nhà đầu tư cảm thấy chúng quá đắt.
Khi mọi người đều nghĩ “quá cao” thì giảm giá là điều tất yếu. Thị trường giảm liên tục từ giữa tháng 3. Cổ phiếu mất giá khiến không ít nhà đầu tư mà đa phần là những người mới gia nhập thị trường thua lỗ nặng. Từ mức đỉnh 1170,67 điểm thị trường rơi xuống mức đáy 905,53 ngày 24/4.
Được tiếp thêm sức mạnh sau kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5, thị trường bắt đầu tăng giá trong tháng 5. Thị trường giai đoạn này tăng trở lại khá nhanh nhưng không lập lại được mức đỉnh cũ, chỉ đạt 1113,19 điểm ngày 23/5. Nếu như năm 2000-2003 được coi là buổi hồng hoang của chứng khoán Việt Nam, năm 2004 là năm lo lắng, năm 2005 là năm yên tĩnh chuẩn bị cho năm 2006 bùng nổ thì năm 2007 là thử thách và tôi luyện nhà đầu tư. 20 Giai đoạn 2008 – 2009 Nguồn: www.2 Biểu đồ VN-Index giai đoạn 2008-2009 Từ tháng 2/2008 trở đi, thị trường chứng khoán bắt đầu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động sử dụng đòn bẩy quá lớn trong thời kỳ tín dụng dễ dãi năm 2007(3).
Hiệu ứng “hòn tuyết lăn” đã tạo nên nỗi ám ảnh khó quên với những ai trải qua giai đoạn này, khi mỗi sáng mở bảng điện giao dịch lại thấy hàng triệu cổ phiếu được các công ty chứng khoán đem ra bán giá sàn nhằm thoát ra bằng được. Không một nguồn lực nào có thể cản nổi hoạt động bán ra chưa từng có này. Đỉnh điểm của sự hoảng loạn bắt đầu với các biểu hiện gây rối của nhà đầu tư. Đây cũng là lần đầu tiên thị trường chứng khoán chứng kiến tâm lý khủng hoảng của nhà đầu tư như vậy.
Chỉ trong hơn sáu tháng đầu năm 2008, VN-Index đã sụt giảm trên 60% so với thời điểm cuối năm 2007. Trong 103 phiên giao dịch của giai đoạn này, có 71 phiên VN-Index giảm điểm. Nghị quyết 03/2007/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch kinh tế – xã (3) hội năm 2007 đã xác định mục tiêu tiền tệ, tín dụng: tổng phương tiện thanh toán tăng 20% – 23% và dư nợ cho vay nền kinh tế tăng 18 – 22% so với năm 2006. 21 Từ tháng 7-8/2008 là thời điểm thị trường tương đối lạc quan, niềm tin được cho là đã quay trở lại.
Nhà đầu tư nước ngoài mua mạnh, nhiều tổ chức nước ngoài đăng ký mua chứng khoán khối lượng lớn, giá cổ phiếu trên thị trường tăng dài ngày. Thị trường chứng khoán đang đi trước những chuyển biến vĩ mô. Xu hướng kích thích kinh tế trở lại đã có từ cuối năm 2008(4) nhưng không khỏa lấp được nỗi lo lắng của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Những con số sống động minh chứng cho một năm 2008 đầy sóng gió, luôn có những cung bậc tâm lí khác nhau trên thị trường, lúc thì sôi nổi tự tin, lúc thì trầm lắng đến u ám trên thị trường chứng khoán Việt Nam, và hệ quả là hàng trăm ngàn tỷ đồng giá trị tài sản đã bốc hơi.
Cũng có thể cho rằng quy mô vốn hóa thị trường là “ảo” do tăng trưởng bong bóng 2006-2007 và giá trị cổ phiếu được định giá quá cao. Tổng hợp một số thông tin cơ bản trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2008-2009 Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Quy mô vốn hóa (tỷ đồng) 220.000 Quy mô vốn hóa/GDP 14,68% 55% Số công ty niêm yết 338 438 Tỉ suất sinh lời/năm: VN-Index -65,73% 95% HNX Index 60% Khối lượng giao dịch (triệu/phiên) 18 64,6 (Tốc độ tăng) (56%) (260%) Số lượng tài khoản 550.000 (Tốc độ tăng) (120%) (33%) Số lượng tài khoản nước ngoài 12.590 (Tốc độ tăng) (40%) (6,7%) Vốn nước ngoài (tỷ đô-la Mỹ) -0,578 0,128 Nguồn: Tác giả tự tổng hợp (4) Chính phủ Việt Nam cắt giảm lãi suất, theo xu thế của thế giới cùng việc tung ra gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD, tập trung vào việc hỗ trợ lãi suất 4% cho các doanh nghiệp đi vay. 22 Giai đoạn 2009 – 2010 Nguồn: www.