Luận Văn Thạc Sĩ Về Tái Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích lý luận và thực tiễn về tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Luật Hình Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI PHẠM

1.1. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm

1.2. Các hình thức tái phạm

1.2.1. Tái phạm nguy hiểm

1.2.2. Tái phạm đặc biệt nguy hiểm

1.3. Phân biệt tái phạm với các dạng khác của đa (nhiều) tội phạm

1.3.1. Phân biệt tái phạm với phạm tội nhiều lần

1.3.2. Phân biệt tái phạm với phạm nhiều tội

1.3.3. Phân biệt tái phạm với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

1.4. Tính nguy hiểm đáng kể của tái phạm và sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc đối với tái phạm

1.4.1. Tính nguy hiểm đáng kể của tái phạm

1.4.2. Sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc đối với tái phạm

1.5. Quy định về tái phạm trong luật hình sự của một số nước trên thế giới

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÁI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Các quy định về tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

2.1.1. Các quy định về tái phạm từ năm 1945 đến trước năm 1985

2.1.2. Các quy định về tái phạm từ năm 1985 đến nay

2.2. Thực tiễn áp dụng chế định tái phạm trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Tình hình áp dụng chế định tái phạm

2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng chế định tái phạm và nguyên nhân

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TÁI PHẠM TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH NÀY TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1. Vấn đề hoàn thiện chế định tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện chế định tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

3.1.2. Phương hướng hoàn thiện chế định tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

3.2. Vấn đề hướng dẫn áp dụng chế định tái phạm trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự

3.3. Một số giải pháp phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tái phạm trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tái Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam

Tái phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam là một vấn đề phức tạp và quan trọng. Tái phạm không chỉ thể hiện sự lặp lại hành vi phạm tội mà còn phản ánh tính nguy hiểm của người phạm tội đối với xã hội. Theo quy định của Bộ luật Hình sự, tái phạm được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này cho thấy sự nghiêm trọng của vấn đề này trong việc bảo vệ trật tự xã hội.

1.1. Khái Niệm Tái Phạm Trong Luật Hình Sự

Tái phạm được định nghĩa là hành vi phạm tội của người đã từng bị kết án và phải chịu hình phạt. Điều này có nghĩa là người phạm tội đã từng vi phạm pháp luật và sau khi thi hành xong hình phạt lại tiếp tục tái phạm. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là sự lặp lại hành vi mà còn thể hiện sự không ăn năn, hối cải của người phạm tội.

1.2. Ý Nghĩa Pháp Lý Của Tái Phạm

Tái phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Theo quy định của pháp luật, tái phạm là một trong những tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này cho thấy sự cần thiết phải có biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn đối với những người tái phạm.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Xử Lý Tái Phạm Hình Sự

Mặc dù pháp luật đã quy định rõ ràng về tái phạm, nhưng trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc áp dụng các quy định này. Những thách thức này không chỉ đến từ việc xác định tái phạm mà còn từ việc áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Xác Định Tái Phạm

Việc xác định tái phạm thường gặp khó khăn do sự phức tạp trong các trường hợp cụ thể. Nhiều trường hợp không rõ ràng về việc người phạm tội đã thực sự thi hành xong hình phạt hay chưa, dẫn đến việc áp dụng sai quy định pháp luật.

2.2. Thiếu Đồng Nhất Trong Áp Dụng Pháp Luật

Sự thiếu đồng nhất trong việc áp dụng các quy định về tái phạm giữa các cơ quan pháp luật cũng là một vấn đề lớn. Điều này dẫn đến tình trạng không công bằng trong xử lý các vụ án hình sự liên quan đến tái phạm.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Tái Phạm Hiện Nay

Để giải quyết vấn đề tái phạm, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Các biện pháp này không chỉ giúp cải thiện tình hình tái phạm mà còn góp phần bảo vệ an ninh trật tự xã hội.

3.1. Cải Thiện Quy Định Pháp Luật Về Tái Phạm

Cần xem xét và cải thiện các quy định pháp luật hiện hành về tái phạm để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc áp dụng. Việc này bao gồm việc làm rõ các khái niệm và quy định liên quan đến tái phạm.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Cho Cán Bộ Pháp Luật

Đào tạo và nâng cao năng lực cho cán bộ pháp luật là rất cần thiết. Điều này giúp họ có thể áp dụng đúng đắn các quy định về tái phạm, từ đó nâng cao hiệu quả xử lý các vụ án hình sự.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Tái Phạm Trong Xét Xử Hình Sự

Thực tiễn áp dụng quy định về tái phạm trong xét xử hình sự cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng không ít khó khăn. Việc phân tích các vụ án cụ thể sẽ giúp làm rõ hơn về tình hình tái phạm hiện nay.

4.1. Tình Hình Áp Dụng Quy Định Về Tái Phạm

Tình hình áp dụng quy định về tái phạm trong các vụ án hình sự hiện nay cho thấy sự gia tăng số lượng vụ án liên quan đến tái phạm. Điều này cho thấy tính nghiêm trọng của vấn đề và cần có biện pháp xử lý kịp thời.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tái Phạm

Nghiên cứu về tái phạm cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này, bao gồm cả nguyên nhân xã hội và cá nhân. Việc hiểu rõ các nguyên nhân này sẽ giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Tái Phạm Trong Pháp Luật Hình Sự

Tương lai của tái phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Cần có những cải cách và điều chỉnh phù hợp để đảm bảo tính hiệu quả trong việc xử lý các trường hợp tái phạm.

5.1. Định Hướng Phát Triển Pháp Luật Về Tái Phạm

Định hướng phát triển pháp luật về tái phạm cần tập trung vào việc hoàn thiện các quy định hiện hành, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong thực tiễn.

5.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Các Cơ Quan Pháp Luật

Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan pháp luật sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc xử lý các vụ án liên quan đến tái phạm, từ đó góp phần bảo vệ an ninh trật tự xã hội.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tái phạm theo pháp luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÁI PHẠM Để đánh giá và hoàn thiện một chế định pháp luật không có cách nào khác hơn là nghiên cứu so sánh nội dung quy định của chế định này với những nhận thức lý luận chuẩn mực và thực tiễn áp dụng của chính nó. Theo đó, để đánh giá và hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự (BLHS) hiện nay về tái phạm, trước tiên phải nghiên cứu sâu sắc những vấn đề lý luận về tái phạm làm cơ sở đối sánh. Những vấn đề lý luận cơ bản nhất về tái phạm cần phải làm rõ bao gồm: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm; tính nguy hiểm và sự cần thiết phải trừng phạt nghiêm khắc đối với trường hợp tái phạm.

Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa pháp lý hình sự của tái phạm 1. Khái niệm tái phạm Tái phạm là một tình tiết tăng TNHS thuộc nhân thân người phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt. Tuy nhiên, về mặt lý luận, khái niệm tái phạm chưa được các nhà khoa học quan tâm xây dựng. Trong các nghiên cứu liên quan đến tình tiết này người ta thường sử dụng định nghĩa pháp lý về tái phạm được quy định bởi BLHS.

Tuy nhiên, vì mục đích đánh giá chính quy định của BLHS về tái phạm bao gồm định nghĩa pháp lý nêu trên nên trong nghiên cứu này cần phải xây dựng một khái niệm chuẩn về tái phạm để làm cơ sở so sánh. Thuật ngữ “tái phạm” trong tiếng Anh “ricidivism” có nguồn gốc từ “recidivus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự lặp lại [40; tr. Còn trong tiếng Việt, về mặt ngữ nghĩa, “tái phạm” là một từ ghép Hán Việt được cấu thành bởi hai từ “tái” và “phạm”. Trong đó “phạm” có nghĩa là “làm tổn hại tới điều cần gìn giữ”, “mắc phải điều cần né tránh” [37; tr.

Những điều cần gìn giữ, cần né tránh đó thường được xác định bởi những quy phạm xã hội như kỷ luật, pháp luật, đạo đức… Nói cách khác, “phạm” là làm điều không nên làm, điều không được làm, trái với các quy phạm xã hội. Còn “tái” là “lại một lần 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nữa”, “lần thứ hai” [37; tr. Ghép hai từ lại, tái phạm có nghĩa là lại một lần nữa/lần thứ hai vi phạm quy tắc. Trong thực tiễn, tái phạm có thể được sử dụng để mô tả sự lặp lại hành vi vi phạm các loại quy tắc điều chỉnh xã hội khác nhau nhưng chủ yếu và phổ biến nhất là được sử dụng để chỉ sự lặp lại hành vi vi phạm pháp luật.

Dưới góc độ tội phạm học, GS. Nguyễn Xuân Yêm cho rằng “tái phạm (hay tái phạm tội) là sự phạm tội trở lại của kẻ phạm tội đã mãn hạn tù hoặc thi hành xong hình phạt” [38; tr. Trong khái niệm này tái phạm có nghĩa là tái phạm tội, tức sự phạm tội trở lại, phạm tội lần nữa của người phải thi hành và đã thi hành xong một hình phạt. Theo đó một hành vi phạm tội có tính chất tái phạm khi thỏa mãn các điều kiện sau: 1) Trước đây người phạm tội đã từng phạm tội, đã bị kết án và theo bản án kết tội đó họ phải chịu hình phạt (có thể là hình phạt tù hoặc một hình phạt nào khác); 2) Lần phạm tội này xảy ra khi chủ thể đã thi hành xong hình phạt nói trên.

Theo quan điểm này thì người bị kết án nhưng được miễn hình phạt hay người bị kết án nhưng chưa thi hành hoặc chưa thi hành xong hình phạt mà phạm tội trở lại thì không phải là tái phạm. Chúng tôi có thể đồng ý về trường hợp người được miễn hình phạt mà sau đó phạm tội trở lại thì không coi là tái phạm vì người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích, không có án tích, nghĩa là trước pháp luật người đó chưa từng phạm tội. Như vậy, xét trên phương diện thực tế việc một người phạm tội sau khi được miễn hình phạt là phạm tội lần nữa nhưng về mặt pháp lý thì người đó được coi như phạm tội lần đầu, không phải là tái phạm. Nhưng trường hợp người đã bị kết án, phải chịu hình phạt, khi chưa thi hành hay chưa thi hành xong hình phạt đã phạm tội trở lại thì không giống như vậy.

Khi bản án kết tội một người có hiệu lực pháp luật thì bất kể người đó đã thi hành hình phạt hay chưa đều bị coi là người phạm tội. Về mặt nhân thân người đó có dấu hiệu đã từng phạm tội cho đến khi nào được xóa án 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Người đã từng phạm tội mà sau đó phạm tội lần nữa thì có nghĩa là tái phạm mà không liên quan đến việc người đó đã chấp hành xong hình phạt hay chưa. Ví dụ: A bị kết án tù do phạm tội cướp, trong thời gian ở trại cải tạo A lại phạm tội cố ý gây thương tích cho bạn tù.

Hành vi phạm tội cố ý gây thương tích dứt khoát phải là hành vi có tính chất tái phạm. Hoặc B phạm tội cho vay nặng lãi bị Tòa án tuyên hình phạt tiền. Bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng hình phạt tiền đối với B chưa được thi hành thì B lại bị bắt vì cho vay nặng lãi. Hành vi phạm tội lần sau của B dứt khoát phải là hành vi tái phạm mặc dù B chưa thi hành xong hình phạt đối với hành vi phạm tội lần trước.

Do vậy, theo chúng tôi việc lấy dấu hiệu đã chấp hành xong hình phạt để làm căn cứ xác định tái phạm là không chính xác. Tương tự với quan điểm của GS. Nguyễn Xuân Yêm, nhà tội phạm học Mỹ Michael D.Maltz cho rằng: “Người tái phạm là người sau khi mãn hạn tù (vì đã thực hiện một tội phạm) không hoàn lương mà thay vào đó họ lặp lại lối ứng xử cũ và tiếp tục phạm tội” [39; tr. Quan điểm này thậm chí còn hẹp hơn quan điểm trên vì theo Maltz: chỉ người đã từng phạm tội, bị tuyên hình phạt tù, đã thi hành xong hình phạt tù mà thực hiện tội phạm lần nữa mới là tái phạm.

Tức là hành vi được coi là tái phạm khi thỏa mãn hai điều kiện: 1) Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội, đã bị kết án tù vì hành vi phạm tội đó; 2) Lần phạm tội này được thực hiện khi người đó đã thi hành xong hình phạt tù nói trên. Theo đó những người đã bị kết án nhưng chỉ phải chịu hình phạt khác, không phải hình phạt tù hoặc người bị kết án phạt tù nhưng chưa thi hành xong mà lại phạm tội mới thì không phải là tái phạm. Việc lấy dấu hiệu thi hành xong hình phạt (mà ở đây còn chỉ gồm hình phạt tù) để xác định tái phạm rõ ràng là chưa hợp lý như đã phân tích ở trên. Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm tái phạm lần đầu tiên được nhắc đến ở cuốn “Đại Nam hình pháp” của TS.

Lê Trung Chánh xuất bản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 1943: “Khi nào đã làm một điều phi vi, Tòa án đã xét xử xong rồi, và án đã chung thẩm rồi, đã thành bất canh cải rồi, mà lại làm điều phi vi nữa thì mới được gọi là tái phạm” [10; tr. Khái niệm này mô tả tái phạm rất đơn giản, rõ ràng, đi thẳng vào bản chất của tái phạm là sự phạm tội lần nữa. Tuy đơn giản nhưng trong khái niệm này các điều kiện của tái phạm được xác định một cách chặt chẽ gồm: 1) Người phạm tội trước đây đã từng phạm tội (đã làm một điều phi vi); 2) Tội phạm mà người ấy thực hiện trước đây đã bị xét xử (Tòa án đã xét xử xong rồi) và bản án đã có hiệu lực pháp luật (án đã chung thẩm rồi, đã thành bất canh cải rồi); 3) Tội phạm lần này được thực hiện sau khi bản án đối với tội phạm trước đây có hiệu lực. Những điều kiện để xác định tái phạm ở đây được cho là chặt chẽ bởi vì theo nguyên nghĩa của tái phạm là sự phạm tội lần nữa thì dứt khoát người tái phạm phải là người đã từng phạm tội.

Mà một người chỉ bị coi là phạm tội khi bị có bản án kết tội có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền. Đây là nguyên tắc pháp luật được nhân loại tiến bộ thừa nhận chung. Do vậy, Tiến sĩ Lê Trung Chánh cho rằng tái phạm là việc một người trước kia đã phạm tội, đã bị xét xử và bản án kết tội người đó đã có hiệu lực pháp luật mà nay lại phạm tội mới. Tuy nhiên, có một vấn đề mà tác giả chưa đề cập đến, đó là điều kiện về án tích.

Trường hợp người đã từng phạm tội, đã bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng sau khi thi hành bản án họ đã được xóa án tích rồi mới phạm tội lần nữa. Rõ ràng khi đã được xóa án tích thì trước pháp luật người đó chưa từng phạm tội cho dù thực tế trước đó đã phạm tội, đã bị kết án. Nhưng sự thiếu sót này không phải do tác giả tư duy phiến diện mà do ở thời đại của ông trong khoa học pháp lý và pháp luật hình sự Việt Nam chưa hề có ý niệm về án tích và xóa án tích. Bên cạnh đó, cách diễn đạt trong khái niệm của TS.

Lê Trung Chánh là văn phong nói, các thuật ngữ sử dụng khá nôm na và có nhiều sự lạc hậu so với khoa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học pháp lý hiện đại. Chẳng hạn như: “đã làm một điều phi vi” (nghĩa là đã từng phạm một tội); “Tòa án đã xét xử xong rồi” (nghĩa là đã bị Tòa án xét xử về tội đó); “và án đã chung thẩm rồi, đã thành bất canh cải rồi” (nghĩa là bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật); “mà lại làm điều phi vi nữa” (nghĩa là lại phạm tội mới). Có quan điểm gần tương đồng với TS. Lê Trung Chánh, tác giả Đàm Trung Mộc trong cuốn “Hình luật tập giảng” xuất bản năm 1961 đưa ra khái niệm: “Tái phạm là tình trạng một người trước đã bị kết án về một tội, về sau lại phạm và bị truy tố nữa” [20; tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tái Phạm Theo Pháp Luật Hình Sự Việt Nam: Vấn Đề Lý Luận và Thực Tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khái niệm tái phạm trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý mà còn chỉ ra những thách thức trong việc áp dụng luật đối với các trường hợp tái phạm. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách pháp luật để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý tội phạm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vnu ls những vấn đề lý luận và thực tiễn về nguồn của luật hình sự việt nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về nguồn gốc và sự phát triển của luật hình sự. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quyết định hình phạt trong bối cảnh tái phạm. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls lỗi cố ý trong luật hình sự việt nam sẽ cung cấp thông tin chi tiết về khái niệm lỗi cố ý, một yếu tố quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến tái phạm và luật hình sự tại Việt Nam.