Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công (mã số 934 04 02) với đề tài "Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam hiện nay" được nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Minh Thi tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Người lao động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số của Việt Nam, giữ vai trò trực tiếp tạo ra của cải vật chất và bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội. Nhằm khích lệ lực lượng này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản chỉ đạo như Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng (nhấn mạnh yêu cầu chú trọng khen thưởng đối với công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động, sản xuất), cùng các chương trình mục tiêu quốc gia được phê duyệt tại Quyết định số 263/QĐ-TTg và Quyết định số 90/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tuy nhiên, văn bản luận án xác định chính sách khen thưởng đối với người lao động và thực tiễn thực thi vẫn tồn tại 4 vấn đề bất cập:
- Chính sách khuyến khích tạo động lực tinh thần cho người lao động chưa rõ ràng, chưa được tách bạch thành một chính sách riêng biệt. Việc xét khen thưởng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn tập trung phần lớn vào đội ngũ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
- Tiêu chuẩn, điều kiện khen thưởng ở bậc cao còn khó tiếp cận đối với người lao động trực tiếp do cơ chế "khen thấp rồi mới được khen cao", "cộng dồn thành tích", "lũy kế thành tích", chưa thực hiện triệt để nguyên tắc "thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó". Tỷ lệ lao động nữ được khen thưởng thấp hơn lao động nam; cơ hội nhận các hình thức khen cấp Nhà nước (như Huân chương Lao động, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ) của người lao động còn hạn chế.
- Quy trình, thủ tục đề nghị khen thưởng phức tạp qua nhiều cấp xét duyệt, thiếu công khai, minh bạch, làm giảm tính kịp thời đối với các trường hợp khen thưởng đột xuất hoặc người có hành động cống hiến vì cộng đồng.
- Quá trình thực thi còn biểu hiện hình thức, chưa tương xứng giữa công trạng và thành tích, tồn tại hiện tượng gian dối thành tích hoặc khen thưởng chưa đúng người, đúng việc.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận công tác thi đua, khen thưởng nói chung dưới góc độ khoa học pháp lý hoặc quản lý nhà nước; chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập, chuyên sâu về chính sách khen thưởng cho nhóm đối tượng người lao động trực tiếp dưới góc độ phân tích nội dung chính sách công dựa trên dữ liệu thực chứng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách khen thưởng đối với người lao động, phân tích nội dung chính sách và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động, luận án đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về chính sách, chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Nhiệm vụ 2: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Nhiệm vụ 3: Đánh giá thực trạng chính sách và thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động trong giai đoạn hiện nay; phân tích những kết quả, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Nhiệm vụ 4: Đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở nước ta hiện nay.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu:
- Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam có mục tiêu và những nội dung cơ bản nào?
- Những yếu tố nào tác động đến chính sách khen thưởng đối với người lao động?
- Việc thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động được thực hiện như thế nào?
- Giải pháp nào để các chính sách khen thưởng mang ý nghĩa tích cực, động viên, khuyến khích người lao động?
- Các giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở nước ta?
Giả thuyết nghiên cứu: Chính sách khen thưởng cho người lao động hiện nay còn nhiều bất cập về nội dung, hình thức, quy trình, thủ tục khen thưởng, chưa đáp ứng được nguyên tắc khen thưởng là chính xác, công khai, công bằng, kịp thời; thực tế thực thi chính sách khen thưởng cho người lao động chất lượng, hiệu quả còn thấp, chưa kết hợp chặt chẽ giữa động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất, chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra của chính sách là thúc đẩy, khích lệ, cổ vũ tinh thần, nâng cao giá trị con người, đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do đó, cần hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động trong bối cảnh hiện nay, khuyến khích mọi cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Chính sách khen thưởng ở Việt Nam bao gồm 6 loại hình khen thưởng (khen thưởng công trạng và thành tích đạt được; khen thưởng đột xuất; khen thưởng qua phong trào thi đua; khen thưởng qua tổng kết thành tích cách mạng; khen thưởng qua quá trình cống hiến; khen thưởng đối ngoại). Luận án giới hạn nghiên cứu vào 3 nội dung chính: (1) Chính sách khen thưởng cho người lao động qua công trạng và thành tích đạt được; (2) Chính sách khen thưởng đột xuất cho người lao động; (3) Chính sách khen thưởng cho người lao động qua các phong trào thi đua. Luận án không nghiên cứu khen thưởng cho người nước ngoài và khen thưởng tập thể.
- Phạm vi không gian: Chính sách khen thưởng cho người lao động tại các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước.
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu từ năm 2013 (thời điểm Luật Thi đua, khen thưởng được sửa đổi) đến năm 2023; khái quát chính sách giai đoạn 1946 - 2013; dữ liệu thực trạng được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2017 - 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo 3 nhóm nội dung chính:
Hướng nghiên cứu về lý luận chính sách và lý luận khen thưởng
- Nghiên cứu lý luận chính sách công trong nước: Các công trình của Lê Chi Mai (2001) về chu trình chính sách; Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2013), Đỗ Phú Hải (2017), Nguyễn Hữu Hải (2014), Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa (2016) về hoạch định và thực thi chính sách công; Hồ Việt Hạnh (2017, 2018) về khái niệm chính sách công và vai trò lãnh đạo của Đảng trong chính sách công. Nhóm luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính sách công của Nguyễn Thị Hoa (2018), Quách Thị Minh Phượng (2016), Đặng Thị Đào Trang (2020), Hoàng Vũ Linh Chi (2020) đóng góp các mô hình phân tích chu trình chính sách, cấu thành chính sách và đánh giá chính sách.
- Nghiên cứu lý luận về khen thưởng trong nước: Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước của Trần Thị Hà (2010); đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thế Thắng (2012); sách chuyên khảo của Trương Quốc Bảo (2010); đề tài cấp Bộ của Bùi Thị Thu Hương (2017); đề tài cấp Học viện của Ngô Thị Hải Anh (2021); bài báo của Phạm Minh Thùy và Nguyễn Duy Linh (2017), Nguyễn Thế Anh (2018), Nguyễn Thế Thắng (2017), Vũ Xuân Đức (2022) trên Tạp chí Thi đua - Khen thưởng. Các tác giả phân tích khái niệm khen thưởng, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, bản chất kinh tế của khen thưởng và yêu cầu bảo đảm tính độc lập, khách quan trong xét tặng danh hiệu.
- Nghiên cứu lý luận khen thưởng quốc tế: Tác phẩm của Cave (2002) tại Australia về việc tạo dựng môi trường làm việc thân thiện thay vì thuần túy dùng tiền bạc; nghiên cứu của Bragg (2000) về 5 lĩnh vực ảnh hưởng đến hệ thống khen thưởng (ủng hộ mục tiêu tổ chức, công bằng, tăng cường đoàn kết/hợp tác win-win, đúng lúc, hướng đến ảnh hưởng lâu dài); sách của Paige Leavitt (2002) về đổi mới khen thưởng dựa trên sự tham vấn ý kiến nhân viên và đồng nghiệp; bài viết của Nicky Campbell-Allen và Don Houston (2008) tại New Zealand về các tổ chức thực hành tốt nhất nhằm nhận diện độc lập cá nhân xứng đáng khen thưởng; sách của Festing (2017) về các yếu tố văn hóa, giáo dục và đặc thù ngành ảnh hưởng đến chính sách khen thưởng quốc tế; tài liệu của Work and Work (1995) về hệ thống tiêu chuẩn đánh giá khen thưởng độc lập.
Hướng nghiên cứu về thực trạng chính sách và pháp luật khen thưởng
- Đề tài cấp Bộ của Trần Hữu Nam (2010) về lịch sử thi đua, khen thưởng từ chế độ phong kiến đến hiện đại; đề tài cấp Nhà nước của Trần Thị Hà (2017) về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp; đề tài cấp Bộ của Phạm Huy Giang (2014) về phương pháp tổ chức phong trào thi đua; các bài viết của Vân Long (2018, 2021) về bất cập sau 10 năm thi hành Luật Thi đua - Khen thưởng và thực trạng khen thưởng phòng chống dịch Covid-19.
- Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Minh Mẫn (2010) và đề tài cấp Bộ của Đoàn Trung Dũng (2019) tại Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương tập trung phân tích các vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành, các bậc khen thưởng, mức thưởng và cơ sở khoa học sửa đổi Luật Thi đua, khen thưởng năm 2013.
Hướng nghiên cứu về giải pháp thực hiện chính sách khen thưởng
- Đề tài cấp Bộ của Trần Thị Hảo (2020) về ứng dụng công nghệ thông tin và số hóa trong quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng; đề tài của Bộ Thông tin và Truyền thông (2012) và Phạm Minh Tiến (2012) về nâng cao hiệu quả công tác khen thưởng ngành; đề tài cấp Bộ của Mai Quang (2016) về cải cách thủ tục hành chính, tinh giảm hồ sơ giấy tờ; các đề tài nghiên cứu cấp tỉnh của Phạm Duy Hanh (2006) tại Lào Cai, Nguyễn Minh Hảo (2010) tại Thái Nguyên về khen thưởng doanh nghiệp.
- Bài viết của Hoàng Thúy Hằng (2020), Mai Hoa (2017), Đình Huấn và Xuân Trường (2022) về cải cách thủ tục khen thưởng tại cơ sở; đề tài cấp Bộ của Đỗ Thúy Phượng (2018) về đổi mới khen thưởng đối với nông dân trong xây dựng nông thôn mới; hội thảo do Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 11/2022 về giải pháp khắc phục tình trạng khen thưởng chưa chú trọng đến người lao động trực tiếp.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các công trình đã công bố nghiên cứu công tác khen thưởng gắn liền với phong trào thi đua hoặc tiếp cận dưới khía cạnh quy phạm pháp luật hành chính. Đối tượng nghiên cứu thường mang tính bao quát chung hoặc hướng vào cán bộ quản lý, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, toàn diện về chính sách khen thưởng dành riêng cho đối tượng người lao động trực tiếp dưới góc độ chính sách công, đồng thời sử dụng hệ thống dữ liệu thực chứng từ các quyết định khen thưởng cấp Nhà nước và điều tra xã hội học độc lập. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phân tích nội dung chính sách, đánh giá thực trạng dựa trên chứng cứ thực tế và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Cách tiếp cận chính sách: Luận án lựa chọn cách tiếp cận theo nội dung chính sách (gồm mục tiêu chính sách, nội dung chính sách, giải pháp chính sách và thực hiện chính sách) để đánh giá việc thực thi chính sách khen thưởng cho người lao động.
- Khái niệm người lao động: Dựa trên phân tích Bộ luật Lao động năm 2019 và định nghĩa của Davidov (2005), luận án xác định khái niệm người lao động trong phạm vi nghiên cứu: "các cá nhân làm việc theo một hình thức hợp đồng (hình thức hợp đồng miệng hoặc bằng văn bản) nhất định, được hưởng lương hoặc trả công; là người không giữ chức vụ lãnh đạo, được người quản lý lao động, người sử dụng lao động chi trả tiền lương, tiền công, thù lao cho công sức lao động bỏ ra và các cá nhân tự do kinh doanh, tự chủ làm việc tự do, không làm công ăn lương hoặc làm việc cho gia đình". Khái niệm bao gồm: (1) Khu vực tư: công nhân, nông dân, thợ, người giúp việc, giáo viên tư thục, bác sĩ tư nhân; (2) Lao động tự do; (3) Khu vực công: cán bộ, công chức, viên chức, chuyên gia không giữ chức vụ lãnh đạo.
- Luận án xác định 6 đặc điểm của người lao động:
- Hưởng lương/tiền công theo hợp đồng, không giữ vị trí lãnh đạo, quản lý; trực tiếp tạo ra của cải vật chất và giá trị xã hội.
- Hiện diện trong tất cả các môi trường công việc và lĩnh vực xã hội.
- Đa dạng, không phân biệt dân tộc, giới tính, tôn giáo.
- Được nhận thù lao, tiền công tương xứng hoặc hoa lợi từ sản phẩm tạo ra.
- Chịu sự ràng buộc của quy phạm pháp luật và sự giám sát, quản lý của người sử dụng lao động.
- Bao gồm cả các cá nhân kinh doanh tự do, tự trang trải chi phí sinh hoạt.
- Khái niệm khen thưởng: Luận án kết hợp khái niệm "khen" (đánh giá tốt về ai, về cái gì với ý vừa lòng - theo Từ điển Tiếng Việt) và "thưởng" (cho tiền, hiện vật để tỏ ý khen ngợi và khuyến khích - theo Sổ tay từ ngữ Hán Việt của Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn, Vũ Đức Nghiên), xác định khen thưởng là sự ghi nhận, tôn vinh kết hợp giữa giá trị tinh thần và lợi ích vật chất.
- Khung phân tích thể chế, công cụ và yếu tố tác động: Phân tích 7 nhóm yếu tố tác động đến chính sách (vấn đề chính sách; thể chế chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng; năng lực chủ thể hoạch định; năng lực cơ quan thực thi; thời gian và thông tin hoạch định; động cơ, mục đích của các bên; điều kiện bảo đảm thực thi).
- Tiêu chí đánh giá chính sách: Gồm 4 tiêu chí: (1) Mức độ áp dụng chính sách; (2) Tính phù hợp trong áp dụng hình thức khen và mức khen; (3) Khả năng tuân thủ chính sách; (4) Tính hữu ích và bền vững của chính sách.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua, khen thưởng.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết và xử lý số liệu điều tra xã hội học (sử dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3).
- Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Phân tích các chủ trương, đường lối và khái quát các luận điểm, giải pháp chính sách (sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 4).
- Phương pháp phân tích thông tin thứ cấp: Thu thập và tổng hợp báo cáo công tác khen thưởng của các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2017 - 2021; phân tích dữ liệu từ 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước được ban hành trong năm 2020 do Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ trao tặng (không bao gồm Bộ Quốc phòng và Bộ Công an).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với dung lượng mẫu 507 phiếu trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2020. Dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS.
| Chỉ báo khảo sát |
Nội dung chi tiết |
| Cơ cấu mẫu khảo sát (507 phiếu) |
Công chức: 20,19%; Viên chức: 15,8%; Nông dân: 15,4%; Nhân viên: 14,2%; Học sinh, sinh viên: 10,3%; Chức sắc tôn giáo: 6,7%; Khác: 3,7% |
| Địa bàn khảo sát (4 vùng miền) |
Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB); Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH); Bắc Trung bộ và duyên hải Miền Trung (BTB&DHMT); Tây Nguyên (TN) |
| Đơn vị thu thập phiếu |
Bộ, cơ quan ngang Bộ (Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và các tỉnh, thành phố (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Thừa Thiên Huế, Lào Cai, Yên Bái, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Gia Lai, Bình Dương, Bình Phước, Cà Mau, Bến Tre) |
| Dữ liệu thứ cấp cấp Nhà nước |
3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 (trừ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an) |
| Báo cáo hành chính |
Dữ liệu khen thưởng của các Bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2017 - 2021 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành 3 cụm nội dung: lý luận chính sách và khen thưởng; thực trạng chính sách, pháp luật khen thưởng; các giải pháp hoàn thiện công tác khen thưởng.
Chương này chỉ rõ: mặc dù các công trình nghiên cứu về chính sách công và pháp luật thi đua - khen thưởng khá phong phú, nhưng việc xem xét người lao động (nhất là lao động trực tiếp) với tư cách là chủ thể thụ hưởng chính sách khen thưởng chuyên biệt vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ. Luận án kế thừa các khái niệm về chính sách công, chu trình chính sách, lý luận về vai trò động lực của khen thưởng từ các đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ, đồng thời xác định nhiệm vụ đi sâu vào thực trạng thực hiện chính sách khen thưởng cho người lao động thông qua điều tra xã hội học và phân tích quyết định khen thưởng thực tế.
Chương 2: Lý luận về chính sách khen thưởng cho người lao động
Chương 2 xây dựng khung lý thuyết của luận án thông qua các nội dung:
- Xác định khái niệm "người lao động" trong mối quan hệ với "người sử dụng lao động", phân định đặc trưng lao động khu vực công và khu vực tư, làm rõ 6 đặc điểm của người lao động trực tiếp không giữ vị trí quản lý.
- Phân tích bản chất của "khen" và "thưởng", mục tiêu của chính sách (động viên tinh thần, tái tạo sức lao động, nâng cao năng suất và tạo động lực xã hội), nội dung chính sách và vai trò của chính sách đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích thể chế chính sách (hệ thống quy định pháp luật, thiết chế tổ chức thực thi) và các công cụ chính sách khen thưởng (công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền - biểu dương).
- Nhận diện 7 yếu tố tác động đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách khen thưởng đối với người lao động (từ thể chế chính trị, năng lực bộ máy, thông tin dữ liệu đến điều kiện nguồn lực bảo đảm).
- Thiết lập hệ thống 4 tiêu chí đánh giá chính sách: mức độ áp dụng; tính phù hợp về hình thức và mức khen; khả năng tuân thủ; tính hữu ích và bền vững.
Chương 3: Thực trạng chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam
Chương 3 khái quát lịch sử xây dựng chính sách khen thưởng qua giai đoạn 1946 - 2013 và tập trung phân tích thực trạng từ năm 2013 đến nay (chủ yếu qua số liệu giai đoạn 2017 - 2021). Các dữ liệu được lượng hóa thông qua 17 bảng biểu và 1 biểu đồ:
- Bảng 3.1, Bảng 3.2, Bảng 3.3 và Biểu đồ 3.1: Phân tích 3.989 quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020, phản ánh tương quan giữa các hình thức khen, số lượng và tỷ lệ người lao động được khen, tương quan chức danh quản lý với giới tính (người giữ chức danh lãnh đạo chiếm đa số; tỷ lệ lao động nữ được khen thấp hơn nam giới).
- Bảng 3.4 và Bảng 3.5: Thể hiện cơ cấu ngành nghề và tỷ lệ người lao động được khen thưởng giữa các khu vực, khối cơ quan (tỷ lệ công nhân, nông dân trực tiếp sản xuất được nhận khen thưởng cấp Nhà nước chiếm tỷ trọng thấp so với khối cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp).
- Bảng 3.6 và Bảng 3.7: Tương quan tuyến trình khen thưởng năm 2020 và yêu cầu chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức làm công tác thi đua - khen thưởng. Tuyến trình khen thưởng chủ yếu thực hiện theo chiều dọc hành chính, chưa khuyến khích cơ chế phát hiện từ cơ sở.
- Bảng 3.8 và Bảng 3.9: Mức độ phát hiện, nhân rộng điển hình tiên tiến và ý kiến đề xuất bổ sung hình thức khen thưởng riêng biệt cho người lao động.
- Bảng 3.10: Tỷ lệ khen thưởng đột xuất cho người lao động còn thấp so với khen thưởng theo công trạng định kỳ.
- Bảng 3.11 đến Bảng 3.14: Kết quả khen thưởng qua các phong trào thi đua lớn: "Cả nước đoàn kết, chung sức, đồng lòng thi đua phòng, chống và chiến thắng đại dịch Covid-19", "Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", "Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", và "Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở".
- Bảng 3.15, Bảng 3.16, Bảng 3.17: Kết quả điều tra xã hội học bằng bảng hỏi (507 phiếu, xử lý qua SPSS) về nhận thức động lực khen thưởng, mức độ quan trọng của chính sách theo tương quan vùng miền, và mức độ hài lòng/đánh giá của người lao động về tính công khai, minh bạch, công bằng trong công tác khen thưởng hiện nay.
Qua phân tích thực trạng, chương 3 rút ra các kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra 4 vấn đề hạn chế cơ bản: chính sách chưa tách bạch riêng; tiêu chuẩn khen thưởng còn mang tính tích lũy nhiều năm khiến người lao động khó tiếp cận; quy trình thủ tục qua nhiều cấp gây chậm trễ trong khen thưởng đột xuất; công tác thực thi ở một số nơi còn mang tính hình thức, cào bằng.
Chương 4: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam
Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp xuất phát từ kết quả phân tích thực trạng:
- Hệ thống 5 quan điểm chỉ đạo:
- Kế thừa các giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về khen thưởng.
- Quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng về thi đua, khen thưởng.
- Gắn khen thưởng với phong trào thi đua, nâng cao nhận thức xã hội về vị trí, vai trò của người lao động.
- Bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống chính sách, quy định rõ ràng về tiêu chí và điều kiện khen thưởng.
- Phù hợp với hệ thống pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc: chính xác, công khai, công bằng, kịp thời.
- Hệ thống 8 nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Hoàn thiện nội dung chính sách: Rà soát, xây dựng tiêu chí khen thưởng độc lập cho người lao động, khắc phục tình trạng phụ thuộc vào tiêu chí tích lũy danh hiệu thi đua liên tục.
- Hoàn thiện các công cụ chính sách khen thưởng: Kết hợp hài hòa giữa tôn vinh tinh thần và nâng cao mức thưởng vật chất tương xứng.
- Cụ thể hóa chính sách thành văn bản quy phạm pháp luật: Thể chế hóa các định hướng ưu tiên người lao động theo tinh thần Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi.
- Hoàn thiện quy định về thủ tục hồ sơ, tiêu chuẩn, tuyến trình đề nghị khen thưởng: Giản lược hồ sơ giấy tờ, cắt giảm các tầng nấc xét duyệt trung gian, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện và khen thưởng đột xuất tại cơ sở.
- Nâng cao năng lực của người lao động (chủ thể thụ hưởng) và cán bộ làm công tác thi đua - khen thưởng (chủ thể thực thi chính sách).
- Tăng cường nguồn lực thực thi chính sách: Đảm bảo quỹ khen thưởng và đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin.
- Bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng và bình đẳng giới trong xét khen thưởng cho người lao động.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách khen thưởng, xử lý các biểu hiện gian dối thành tích hoặc khen thưởng sai đối tượng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về chính sách khen thưởng cho người lao động dưới giác độ chính sách công, phân tích rõ đặc thù của người lao động không giữ chức vụ lãnh đạo ở cả khu vực công và khu vực tư.
- Xác định rõ khung phân tích gồm mục tiêu, nội dung, thể chế, công cụ, 7 yếu tố tác động và hệ thống 4 tiêu chí đánh giá chính sách khen thưởng cho người lao động (mức độ áp dụng, tính phù hợp của hình thức/mức khen, khả năng tuân thủ, tính hữu ích và bền vững).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực chứng khách quan, chưa từng được công bố trong các công trình trước đây thông qua việc lượng hóa dữ liệu từ 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 và kết quả khảo sát xã hội học 507 mẫu tại 4 vùng miền trên cả nước.
- Chỉ ra các bằng chứng cụ thể về sự mất cân đối trong cơ cấu khen thưởng: tỷ lệ người giữ chức vụ lãnh đạo chiếm phần lớn danh hiệu khen thưởng cấp cao; lao động trực tiếp (công nhân, nông dân, nhân viên) chiếm tỷ lệ thấp; sự chênh lệch về giới trong thụ hưởng danh hiệu bậc cao.
- Đề xuất hệ thống 8 nhóm giải pháp cụ thể, bám sát các quy định của Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2024), trong đó nhấn mạnh việc xóa bỏ cơ chế "cộng dồn thành tích" đối với khen thưởng công trạng cho người lao động trực tiếp, đơn giản hóa tuyến trình và quy định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong việc phát hiện điển hình tiên tiến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do các quyết định khen thưởng cấp Nhà nước chỉ thể hiện kết quả phê duyệt cuối cùng, dữ liệu thứ cấp chưa thể phản ánh chi tiết toàn bộ hồ sơ quá trình, các biên bản họp bình xét tại hội đồng thi đua - khen thưởng các cấp cơ sở, cũng như toàn bộ mô tả chi tiết về sáng kiến, thành tích cụ thể của từng cá nhân.
- Nghiên cứu tập trung vào 3 loại hình khen thưởng chủ yếu (công trạng, đột xuất, phong trào thi đua), chưa bao quát toàn diện các loại hình khác như khen thưởng đối ngoại, khen thưởng cống hiến, tổng kết thành tích cách mạng, và chưa khảo sát nhóm đối tượng là người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hoặc tập thể người lao động.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá tác động thực tế của chính sách sau khi Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 chính thức đi vào thực thi từ ngày 01/01/2024, đặc biệt là việc triển khai các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư) quy định về tiêu chuẩn khen thưởng cho công nhân, nông dân, người trực tiếp lao động.
- Mở rộng phạm vi khảo sát sâu vào quy trình thẩm định nội bộ tại các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân, các mô hình kinh tế tập thể và các cơ quan sự nghiệp tự chủ.
- Nghiên cứu chính sách khen thưởng đặc thù cho các nhóm lao động mới xuất hiện trong nền kinh tế số và lao động phi chính thức.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước: Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Bộ Nội vụ và cơ quan thường trực thi đua - khen thưởng các cấp có thể tham khảo các căn cứ thực tế và hệ thống tiêu chí trong luận án để xây dựng, sửa đổi các văn bản hướng dẫn thi hành luật, quy định chi tiết tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu cho công nhân, nông dân và người lao động trực tiếp.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công tại Học viện Khoa học xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các trường đại học khối khoa học xã hội.
- Đối với tổ chức đại diện và đơn vị sử dụng lao động: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các tổ chức công đoàn cơ sở, các hiệp hội nghề nghiệp và doanh nghiệp có thể vận dụng các tiêu chí và đề xuất về cải cách thủ tục, tuyến trình để thiết kế quy chế khen thưởng nội bộ bảo đảm tính thực chất, công bằng và khích lệ người lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "người lao động" như thế nào để phục vụ phạm vi nghiên cứu?
Luận án xác định người lao động là các cá nhân làm việc theo hợp đồng (miệng hoặc văn bản), được trả lương hoặc trả công, không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở cả khu vực công và khu vực tư; đồng thời bao gồm cả những cá nhân tự do kinh doanh, tự làm việc độc lập hoặc làm việc cho gia đình.
2. Luận án sử dụng những nguồn dữ liệu thực chứng nào để đánh giá thực trạng?
Luận án sử dụng hai nguồn dữ liệu chính: (1) Dữ liệu thứ cấp gồm báo cáo của các Bộ, ngành, 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2017 - 2021 và 3.989 Quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 (trừ Bộ Quốc phòng và Bộ Công an); (2) Dữ liệu sơ cấp từ điều tra xã hội học bằng bảng hỏi với 507 phiếu khảo sát tại 4 vùng miền trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2020, được xử lý bằng phần mềm SPSS.
3. Bất cập lớn nhất trong việc xét tặng khen thưởng cấp cao cho người lao động được luận án chỉ ra là gì?
Bất cập lớn nhất là quy định mang tính "lũy kế thành tích", "cộng dồn thành tích" và nguyên tắc "khen thấp rồi mới được khen cao". Quy định này yêu cầu cá nhân phải đạt danh hiệu thi đua nhiều năm liên tục mới đủ điều kiện xét khen cấp Nhà nước (như Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Huân chương Lao động), khiến người lao động trực tiếp khó đáp ứng do tính chất công việc không gắn với các chỉ tiêu quản lý.
4. Luận án đề xuất bỏ quy định nào trong việc xét khen thưởng cho người lao động trực tiếp?
Luận án đề xuất thực hiện triệt để nguyên tắc "thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó", tháo gỡ yêu cầu tích lũy danh hiệu thi đua nhiều năm liên tục đối với người lao động trực tiếp; xây dựng hệ thống tiêu chí độc lập, tách bạch cho người lao động và trao quyền chủ động phát hiện, đề xuất khen thưởng cho cơ sở và người đứng đầu.
5. Luận án đưa ra những tiêu chí nào để đánh giá chính sách khen thưởng cho người lao động?
Luận án xác lập 4 tiêu chí đánh giá: (1) Mức độ áp dụng chính sách; (2) Tính phù hợp trong áp dụng hình thức khen và mức khen; (3) Khả năng tuân thủ chính sách; (4) Tính hữu ích và bền vững của chính sách.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Chính sách công nghiên cứu về chính sách khen thưởng cho người lao động ở Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, đồng thời đánh giá thực trạng chính sách và thực thi chính sách thông qua việc phân tích 3.989 quyết định khen thưởng cấp Nhà nước năm 2020 và kết quả khảo sát 507 phiếu điều tra xã hội học. Trên cơ sở nhận diện các điểm nghẽn về tiêu chuẩn tích lũy thành tích, thủ tục hành chính và cơ cấu đối tượng thụ hưởng, luận án đề xuất 5 quan điểm và 8 nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách khen thưởng, đáp ứng yêu cầu thể chế hóa Luật Thi đua, khen thưởng mới tại Việt Nam.