Đặt vấn đề Hiện nay ở nước ta có ba vùng trồng ca cao chính, là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Trong đó, ca cao chủ yếu được trồng xen với dừa, điều, cây ăn quả. Sản lượng về hạt ca cao hàng năm ở Việt Nam khoảng 5500 tấn. Trong công nghiệp chế biến ca cao, lượng phế liệu và chất thải chiếm khoảng 85% trọng lượng quả tươi, bao gồm vỏ ca cao, chất nhầy chiếm tỷ trọng cao, (Nguyễn Văn Tặng, 2014).
Lượng vỏ ca cao thải ra môi trường hàng năm trên toàn thế giới được ước tính là khoảng 55 triệu tấn. Cây ca cao là cây công nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao, được trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, phát triển nhiều ở những nước có khí hậu nhiệt đới chiếm vị trí rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp (L. Gonzalez-Nunez và cộng sự, 2011). Ca cao được sử dụng rất nhiều ở dạng nguyên chất hoặc ở các hình thức phối trộn khác nhau như kẹo ca cao, chocolate,…(D.
Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến ca cao ngày càng phát triển nhưng chỉ có hạt ca cao là nguồn ca cao thương mại, còn vỏ ca cao thì thải bỏ ra môi trường bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường, tác động xấu đến đời sống con người, do đó nhu cầu sản xuất hạt ca cao ngày càng tăng thì lượng phế phẩm thải ra môi trường ngày càng nhiều dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng tăng lên (Stela Jokic và cộng sự, 2018). Trong vỏ ca cao có chứa Theobromine, là chất kích thích tạo sự hung phấn nhẹ, có khả năng làm tăng sức chịu đựng của tim, điều hoà huyết áp, tăng cường hoạt động của hệ tuần hoàn (Stela Jokic và cộng sự, 2018). Theoromine là thành phần đặc trưng của hạt ca cao chiếm 1,5-1,7% khối lượng hạt hoặc 0,5-1,3% khối lượng vỏ quả, tạo hương thơm và vị đắng đặc trưng cho chocolate. Có thể sử dụng để bổ sung vào các sản phẩm thực phẩm.
Từ những lý do trên chúng tôi quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu tách chiết theobromine từ vỏ ca cao” để nâng cao giá trị kinh tế của cây ca cao và hạn chế được chất thải ra môi trường bên ngoài, góp phần vào việc bảo vệ môi trường. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ tách chiết theobromine thô từ phế phẩm vỏ ca cao để thu được theobromine ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm cũng như trong 1 ngành y dược. Nhằm khai thác một cách triệt để nguồn nguyên liệu vỏ ca cao, tận dụng nguồn phế thải vỏ ca cao. Từ đó hạn chế sự ô nhiễm môi trường và nâng cao giá trị sử dụng cho cây ca cao.
Xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình trích ly theobromine từ vỏ ca cao. Từ đó tối ưu hóa các yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến quá trình trích ly. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Vỏ ca cao Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu này được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm của Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP. Nội dung nghiên cứu - Tổng quan về ca cao, theobromine và các phương pháp trích ly - Xác định các thành phần hóa học của vỏ ca cao - Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly - Tối ưu hóa các yếu tố công nghệ của quá trình trích ly - Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất theobromine thô - Đánh giá chất lượng sản phẩm 1.
Kết quả đạt được Xác định vỏ ca cao có hàm lượng ẩm bằng 8,76%, hàm lượng tro 6,79%, hàm lượng lipid 2,47%, hàm lượng protein 11,02%, hàm lượng carbonhydrate 79,72% và hàm lượng theobromine là 1,25% Quá trình trích ly theobromine chịu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố như dung môi trích ly, tỷ lệ dung môi với nguyên liệu, thời gian trích ly, nhiệt độ trích ly, quá trình khử tạp…Bằng thực nghiệm và kết quả số liệu thu được cho thấy ở các mức khảo sát khác nhau hàm lượng theobromine thu được là khác nhau. Chúng tôi đã xác định được các yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến quá trình trích ly như sau: Dung môi trích ly là cồn ethanol 70o, độ ẩm nguyên liệu khoảng 4 – 6%, tỷ lệ dung môi thích hợp trong khoảng 25ml/g đến 28ml/g, thời gian trích ly thích hợp trong khoảng 30 – 90 phút và khoảng nhiệt độ thích hợp là 60 – 80oC. 2 Tối ưu hóa quá trình trích ly theobromine từ vỏ ca cao cho ra kết quả tối: Tỉ lệ dung môi so với nguyên liệu ban đầu là 27/1; nhiệt độ trích ly là 72oC, thời gian trích ly 69,36 phút. Hàm lượng Theobromin thu được là 90,36 mg.
Hiệu suất thu hồi hàm lượng theobromine là 72,16%. Xây dựng hoàn chỉnh quy trình công nghệ tách chiết theobromine từ vỏ ca cao. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài sẽ cung cấp dữ liệu thực nghiệm về ảnh hưởng về các điều kiện chiết tách cũng như phương pháp trích ly đến hiệu suất thu hồi theobromine từ vỏ ca cao. Các kết quả của đề tài có thể làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu hoặc tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan về tách chiết các hợp chất alkaloid từ các nguồn tự nhiên.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cở sở để tối ưu hóa và xây dựng hoàn chỉnh quy trình tách chiết theobromine từ vỏ ca cao sao cho hiệu suất thu hồi là cao nhất. Tăng giá trị sử dụng của cây ca cao, hạn chế lượng phế phẩm vỏ ca cao thải ra môi trường, góp phần vào việc bảo vệ môi trường. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan về cây ca cao 2.
Giới thiệu cây ca cao Cây ca cao có tên khoa học là Theobroma ca cao, thuộc họ Sterculiaceae (Cuatrecasas J, 1964) là loại cây sống vùng nhiệt đới, cây cao khoảng 4 - 8m và có nhiều cây có thể cao tới 10m (Alverson WS và cộng sự, 1999; H. Belitz và cộng sự, 2008). Thân thẳng, quả chín dài khoảng 15 - 25cm, mỗi quả trọng lượng khoảng 300 - 500g, trung bình mỗi quả có chừng 30 - 40 hạt ca cao (Lachenaud P và cộng sự, 1997; Nguyễn Tiến Lực, 2018). Cây ca cao được coi là một trong những cây lâu năm quan trọng nhất trên hành tinh, với sản lượng ước tính trên thế giới là 3,5 triệu tấn vào năm 2006.
Nó được trồng chủ yếu ở các khu vực nhiệt đới của Trung và Nam Mỹ, Châu Á và Châu Phi (Alvim PT, 1984). Cây ca cao là loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, có nhiều ưu điểm nổi bật so với các loại cây trồng khác, đặc biệt là khả năng sống cộng sinh xen kẽ dưới tán của các loại cây trồng khác. Cây ca cao Ở Việt Nam cây ca cao lần đầu tiên được người Pháp đưa vào từ đầu thế kỷ XX. Trong những năm 1960, người Mỹ lại đưa tiếp ca cao vào miền Nam.
Năm 1987, phong trào trồng ca cao được phát động và diện tích trồng ca cao của tỉnh Đắk Lắk có lúc đã đạt khoảng 1.000ha đến năm 2010, diện tích ca cao toàn tỉnh chỉ đạt 1.935ha Năm 1998, chủ trương nhà nước phát triển cây ca cao trên vùng cao nguyên 4 Tháng 3 năm 2005, Bộ NN&PTNT đã thành lập Ban điều phối ca cao Việt Nam nhằm hỗ trợ việc xây dựng các chính sách liên quan tới ngành sản xuất ca cao. Mục tiêu là đạt 60.000ha ca cao vào năm 2015 và 80. Trong quy hoạch quy mô diện tích phát triển ca cao Việt Nam sẽ lên tới 80.000 ha với sản lượng 120. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hạt và bột ca cao, giá trị gia tăng trong chế biến còn rất hạn chế.
Để ngành ca cao Việt Nam, phát triển bền vững cần chú trọng nghiên cứu chế biến các sản phẩm ca cao chất lượng cao. Năm 2013 diện tích ca cao cả nước đạt 22.110,3 ha, trong đó vùng có diện tính trồng lớn nhất là Đồng bẳng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Diện tích ca cao cho thu hoạch là 11.055 ha, chiếm khoảng 50% tổng diện tích, sản lượng hạt ca cao khô được lên men năm 2013 là 6. Hiện nay ở nước ta có ba vùng trồng ca cao chính bao gồm đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ.
Trong đó, ca cao chủ yếu được trồng xen (với dừa, điều, cây ăn quả…) Việt Nam cho sản lượng rất khiêm tốn về hạt ca cao trung bình hàng năm là 5.500 tấn, trong khi sản lượng hạt ca cao của thế giới là khoảng 4,8 triệu tấn. Việt Nam, diện tích canh tác ca cao của Việt Nam cao nhất vào năm 2012 với 25.700 ha, sau đó liên tục giảm, đến năm 2019 còn 5. Các tỉnh có diện tích giảm nhiều đó là Bến Tre, Đắc Lắk, Bình Phước, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang. Trong đó, Bến Tre là tỉnh có diện tích canh tác giảm nhiều nhất, từ 9.
Trong năm 2011, cả nước đã xuất khẩu được 240 tấn hạt ca cao, đạt kim ngạch xuất khẩu 520 nghìn USD. Trên thế giới cây ca cao được trồng trên 50 nước trên thế giới, chủ yếu là ở Tây Phi, Trung và Nam Mỹ và châu Á. Các châu lục trên thế giới có trồng ca cao nhiều là: - Châu Phi gồm: Bờ Biển Ngà, Ghana, Nigeria, Uganda. - Châu Mỹ gồm: Brazil, Cameroon, Ecuador, Mexico, Peru.
- Châu Á gồm: Indonesia, Malaysia, Việt Nam. 5 Bờ Biển Ngà là nước chế biến ca cao lớn nhất thế giới, sản lượng niên vụ 1999/2000 đạt 1,3 triệu tấn (chiếm 41,9% sản lượng ca cao thế giới), Ghana và Indonesia có sản lượng niên vụ 1999/2000 khoảng 390. Ngành công nghiệp chocolate trị giá khoảng 110 tỷ USD một năm, giá ca cao quốc tế từ 2. Đặc điểm và phân loại cây ca cao 2.
Đặc điểm của cây ca cao Cây ca cao là cây thân gỗ, chiều cao trung bình 5-7m, tuổi thọ 20- 30 năm. Sau khi trồng 3-4 năm thì cây ra hoa (H. Belitz và cộng sự, 2008). Khi chín, vỏ ca cao đổi màu, đầu quả màu lục, xanh oliu vàng tươi khi chín.
Quả có hình cầu hay hình trứng (tùy giống). Quả có chiều dài trung bình từ 12-15cm, đường kính quả là từ 7-9cm. Trọng lượng cuả vỏ và hạt: 200-1000g (trung bình 400-500g ở giống Forastero). Mỗi quả thường chứa 30-40 hạt, Mỗi cây cho khoảng 0.0 kg hạt (tùy giống), Mỗi hecta thường cho 1 tấn hạt nguyên liệu (Nguyễn Tiến Lực, 2018) Cây ca cao thường được trồng ở các vùng cận nhiệt đới khô đến ẩm ướt trong các khu rừng nhiệt đới.
Trồng ca cao thương mại thông qua giâm cành, chồi hoặc ghép, nhưng việc gieo hạt trực tiếp cũng được thực hiện cho mục đích canh tác.