Chương 1 TÔNG QUAN 1. Nho và phụ phẩm nho Nho là một trong những loại trái cây được sản xuất với sản lượng lớn trên toàn cầu với hơn 74,5 tỉ tan 2014 (Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2017), 75,7 ti tấn vào 2015 (Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2017). Các sản phẩm từ nho bao gồm: rượu vang, nước trai cây, mức nho, nho khô. có giá trị lớn về mặt kinh tế.
Nho có khoảng 60 loài, trong đó Vitis vinifera thì loại phổ biến trong sản xuất rượu vang. Ở Việt Nam, Ninh Thuận được xem là thủ phủ các loại nho đa dạng nhất nước. Một số giống nho chính đang được trồng tại Ninh Thuận gồm: nho xanh Ninh Thuận, nho đỏ Ninh Thuận, nho đỏ ngón tay, nho đen ngón tay và nho thân gỗ. Trong đó giống nho đỏ Ninh Thuận (Red Cardinal) là giỗng nho thuần Việt, cây phát triển khỏe, dé trồng và dé chăm sóc và năng suất cao.
Trái có hình cầu, bằng đầu ngón tay, vỏ mỏng có màu hồng nhạt đến đỏ đậm, vị ngọt hài hòa và chua nhẹ. Chính vì năng suất cao, vị chua ngọt hài hòa và được trồng quanh năm, trái nho được sử dụng dạng tươi và cũng được sử dụng nhiều trong sản xuất rượu, nước ép trái cây. Nho là loại trái cây rất phô biến trên thế giới ké cả Việt Nam khi được ứng dụng lớn trong ngành sản xuất nước giải khát và đặc biệt là ngành sản xuất rượu vang. Chính vì thé, phụ phâm nho thải ra hàng năm từ nganh công nghiệp này vô cùng lớn, chiếm khoảng 20% trọng lượng còn lại của nho sau khi ép dịch trích ly bao gồm cả vỏ, hạt và cuốn nho.
Trong khi đó, một lượng lớn các hợp chất sinh học vẫn giữ lại khá lớn trong phụ phẩm nho này. Vì thế, các nhà khoa học đã nghiên cứu các hợp chất sinh học trong phụ phẩm nho cùng với các phương pháp trích ly phù hợp và những ứng dụng cụ thé trong công nghiệp mỹ phẩm ,y học và thực phẩm. Thành phan của phụ phẩm nho, được tinh theo g/ 100g trọng lượng tươi Bã nho đồ Bã nho trắng Độ âm 53,9 67,1 Chất sơ 37.4 23,9 Hàm lượng béo 0,5 0,8 Đường 24 35 Protein 3,8 3,1 Tro 2,1 1,9 1. Các hợp chất có hoạt tinh sinh học trong bã nho Phenolic là hợp chất chuyên hóa thứ cấp của thực vật.
Về mặt hóa học, phenolic có thé được định nghĩa như một chất có vòng thom mang một hoặc nhiều nhóm hydroxyl, bao gồm các dẫn xuất chức năng của chúng. Phenolic là những hợp chất mà chứa một hay nhiều nhóm hydroxyl phenol mang một hay nhiều vòng thơm (Yu và Ahmedna, 2013). Trong nghiên cứu khoa học thực phẩm, hợp chất phenolic tự nhiên được phân loại chung thành những loại chính và phụ dựa trên cấu trúc hóa học tương tự, đó là loại khối xây dựng dẫn xuất dạng các đơn vị lặp lại. Bốn nhóm chính của phenolic được tìm thấy trong thực phẩm là acid phenolic, lignans và stilbenes.
Những stilbenoid chính được tìm thay trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật là resveratrol và glycosids của nó. Resveratrol là một phytoalexin được sản xuất trong thực vật đề phản ứng lại sự tấn công của mầm bệnh. Nó có độc tính thấp đối voi con người và là chất diệt nắm tự nhiên. Axít phenolic là phenol có một nhóm chức axit carboxylic và được chia làm hai loại đó là axít hydroxycinnamic và axit hydroxybenzoic.
Thực tế, axit hydroxycinnamic phổ biến hơn axit hydroxybenzoic và chúng bao gồm thành phần chính như axit gallic, p-coumaric, caffeic, axit chlorogenic, ferulic và axít sinapic (Yu và Ahmedna, 2013). Phenolic được nghiên cứu rộng và sâu nhất chính là những flavonoids. Dựa vào cấu trúc phân tử của chúng được chia làm bảy lớp nhỏ: flavones, flavanones, flavonols, isoflavones, anthocyanidins/anthocyanins, flavanols (hay catechins và procyanidins) và chalcones (Karakaya, 2004). Một nhóm khác của flavonoids mà không bao gồm trong phân lớp này đó chính là proanthocyanidins hay còn gọi là procyanidins, condensed tannins hay oligomeric procyanidins (Prior va Gu, 2005).
Mặc dù phenolic hiện tại trong hau như trong tat cả các loại thức ăn có nguồn gốc động vật nhưng các loại trái cây như nho, táo, việt quốc và nam việt quốc thì cực kỳ giàu những hợp chat sinh học này. Trong quả nho, thì các hợp chất phenolic chủ yêu ở vỏ, hạt và cuốn nho. Vỏ nho thì rất giàu chất chồng oxi hóa phenolic trích ly được (10-11% trọng lượng khô). Anthocyanins, catechins, proxyanidins, flavonol glycosides và stilbenes là những phenolic quan trọng được tìm thấy trong bã nho (Yu và Ahmedna, 2013).
Không những thành phần phenolic trong các giống nho khác nhau ma còn khác nhau trên các phần của quả nho. Nho đỏ rất giảu anthocyaninins, nó là một phenolic chính trong nho đỏ, khoảng 69 -151 mg/kg trong lượng nho tươi, trong khi đó flavan-3-ols là phenol phong phú nhất trong các nhóm nho trắng chiếm khoảng 52-§1 mg/kg trọng lượng nho tươi (Yu và Ahmedna, 2013). Nghiên cứu về hàm lượng của hợp chất phenolic và hoạt tính chống oxi hóa đã cho thấy trong catechin là hợp chất không anthocyanic phong phú nhất được xác định trong bã nho (150,16 mg/100g) cho tat cả các giống. Giống nho đỏ Cabernet Sauvignon chứa ham lượng cao nhất hợp chat phenolic tổng (75 mg/g), trong khi giống Bordeaux cho thay hàm lượng tổng số anthocyanins cao nhất.
Vỏ nho, một phan của bã nho được chứng minh là nguồn giàu anthocyanins, axit hydroxycinnamic, flavanol và flavonol glycoside, trong khi axít gallic và flavanol chủ yêu có trong phan hạt (Kammerer va ctv, 2004). Theo phân tích của Montealegre và ctv (2006) thì vỏ nho đỏ chứa nhiều hydroxycinnamates and flavonols hơn là vỏ nho trắng. Vỏ nho đỏ chứa lượng hydroxycinnamates cao hơn vỏ nho trắng (31-55 mg/kg nho tươi), nhưng lượng catechin thấp hơn nhiều (9,0—18 mg/kg nho tươi), chat làm mờ procyanidin (8,0-18 mg/kg nho tươi) và tổng số flavonols (12—19 mg/kg nho tươi). Các proanthocyanidin tạo nên vị đắng của sôcôla, vị chát của đồ uống và trái cây do chúng có khả năng tạo phức hợp với protein nước bọt.
PAC có thể được sử dụng như một chat phụ gia thực phẩm dé tạo ra tính làm se, tính 6n định của vi sinh vật, khả năng tạo bọt, én định oxy hóa và ôn định nhiệt cho các sản phẩm thực phẩm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng PAC giúp bảo vệ cơ thê khỏi tác hại của ánh nắng mặt trời, cải thiện thị lực, cải thiện tính linh hoạt của khớp, động mach và các mô cơ thé như tim và cải thiện lưu thông máu bằng cách tăng cường mao mạch, động mạch và tĩnh mạch. Các phức hợp proanthocyanidin oligomeric (OPC) đã được báo cáo dé chứng minh các hoạt động chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng virút, chống ung thư, chống viêm, chống dị ứng và giãn mạch. Chúng có thể ức chế peroxide hóa lipid, kết tụ tiêu cầu và tăng tính thấm của mao mach (Fine, 2000).
Saponin là các hợp chất glycosid không bay hơi tự nhiên được tìm thấy trong phần lớn thực vật. 'Saponin' bắt nguồn từ tiếng Latinh 'Sapo' có nghĩa là 'xà phòng', nôi tiếng với đặc tính tạo bọt (Góral và ctv, 2020). Saponin được đặc trưng bởi vô số tính chất vật lý của chúng, bao gồm vị ngọt và vị đắng. Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến việc sử dụng saponin như một chất phụ gia hiệu quả đề hình thành va ổn định nhũ tương dau trong nước và nano (Liao và ctv, 2021).Triterpenoid bao gồm cả steroid là một nhóm rất đa dạng các sản phẩm tự nhiên phân bố rộng rãi trong thực vật.
Saponin triterpenoid bao gồm một aglycone triterpene, với 30 nguyên tử carbon, với một hoặc nhiều gốc đường (bao gồm hexose, methylpentose và pentose) được gắn vào aglycone (Augustin & ctv, 2011). Triterpenoid saponin có thé được tìm thay trong các loại đậu như cỏ linh lăng, đậu xanh, đậu tằm, đậu tương, đậu lăng, đậu phộng, hạt hướng dương, rễ nhân sâm và các loài chi hành khác, trong khi saponin steroid được tìm thấy trong cây Yucca, hat ca chua, rễ nhân sâm, khoai mỡ, cả tím, hat co cà ri, mang tây, ớt chuông. Saponin thé hiện một loạt các hoạt động sinh hoc như hoạt động chống vi khuẩn hoặc chống côn trùng, được sản xuất dưới dạng các phân tử bảo vệ thực vật dé đối phó với các mối đe dọa sinh học, mầm bệnh và động vật ăn cỏ. Trong bối cảnh sức khỏe con người, saponin thể hiện nhiều đặc tính dược lý, bao gồm các hoạt động chống cholesterol máu, chống ung thư và tán huyết.
Ngoài các ứng dung được lý, saponin được sử dụng trong công nghiệp tay rửa và mỹ phẩm do đặc tính tạo bọt của chúng. Hàm lượng phenolic trên mỗi phần của bã nho khác nhau tùy theo giống nho và chịu sự ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, độ trưởng thành và thời gian lên men (Montealegre và ctv, 2006). Năng suất trích ly được trên mỗi quả của tất cả các phenolic giảm theo độ chín và theo sau động học bậc hai. Hàm lượng phenolic trong hạt nho trắng và nho đỏ là như nhau.
Tuy nhiên catechin, epicatechin và procyanidin B1 trong hạt nho đỏ thi cao hơn. Nhìn chung thì hạt nho chứa ít hàm lượng phenolic hon vỏ nho nhưng lại giàu catechins và procyandins (Castillo-Muñoz và ctv, 2010). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rang các hợp chất phenolic phụ phẩm nho chủ yếu gồm: flavonoid, saponin triterpenoid và proanthocyanidin, cụ thể là proxyanidins mang lại nhiều lợi ich cho sức khỏe như chống lại ung thư và các hoạt động chống lại ung thư; chống oxi hóa và chống viêm (Yu và Ahmedna, 2013); phòng ngừa và giảm thiểu các bệnh tim mạch; tăng cường tuổi thọ và làm chậm các dấu hiệu liên quan đến tuôi thọ. Các hợp chất hoạt tính sinh học chính chịu trách nhiệm về nhiều lợi ích sức khỏe được báo cáo của rượu vang và các sản phẩm phụ của rượu vang.
Enzyme Cellulase, enzyme Petinase và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trích ly bằng enzyme 1. Enzyme Cellulase và Petinase Enzyme cellulase: Enzyme cellulose là một tổ hợp của ba loại enzyme gồm: exo-glucanase, endo-glucanase và j-glucosidase, có thé được sản xuất bằng các vi sinh vật khác nhau một cách tự nhiên và rất quan trọng về mặt sinh thái vì nó có khả năng tái chế trong sinh quyên. Cellulose có ban chat protein được cau tạo từ các đơn vị là acid amin, các acid amin được kết nối với nhau bởi liên kết peptide —- CO — NH- và các thành phần phụ khác. Đây là một loại enzyme tìm năng được ứng dụng nhiều trong ngành công nghiệp như dệt may, chat tay rửa, các hoạt chất sinh học, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu sinh học.Enzyme được sản xuất chủ yếu từ nắm hiếu khi đang đóng vai trò quan trọng và chi phối trong các ứng dụng khác nhau.