CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Cấu tạo của da cá Da cá là tổ chức khá phức tạp, mô da là một khối tổng hợp gồm 3 lớp: Biểu bì, trung bì và hạ bì kết hợp chặt chẽ với nhau thành các lớp tổ chức bao phủ mang tính chất co dãn, có tính nhớt, tính tạo hình, có các lớp biểu mô, các mô liên kết, lông và gốc lông, thớ cơ, tận cùng các dây thần kinh, lưới mạch máu và bạch mạch. Thành phần hóa học của da cá 1. Protein Collagen: là thành phần chính của protein trong da.
Cấu tạo và chức năng của collagen sẽ được trình bày cụ thể ở phần 1. Albumin: là protein tan được trong nước, dung dịch muối loãng, acid loãng và kiềm loãng. Albumin bị kết tủa trong dung dịch (NH4)2SO4 bão hòa và bị đông tụ khi bị đun nóng. Quá trình ngâm rửa nguyên liệu sẽ loại được phần lớn protein này.
Globulin: là protein không tan trong nước nhưng tan được trong dung dịch acid loãng, kiềm loãng và dung dịch muối trung tính (8 ÷ 18% NaCl), dễ đông tụ hơn albumin khi bị đun nóng. Keratin: là protein tạo chất sừng, trong mạch phân tử của keratin ngoài liên kết ion và liên kết hydro còn có liên kết disulfide. Các liên kết disulfide bị thủy phân trong kiềm nhưng không bị acid thủy phân nên keratin bị phá hủy trong môi trường kiềm và tương đối ổn định trong môi trường acid. Elastin: là protein có màu vàng, các sợi elastin có tính co giãn và có thể kéo giãn khoảng 5%, không tan trong nước, tương đối ổn định trong môi trường kiềm và acid, bị phân giải bởi enzyme elastase.
HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 4 Mucin và mucoid: protein trong niêm dịch, có thể hòa tan trong dung dịch kiềm loãng. Trong dung dịch acid loãng, mucin bị kết tủa còn mucoid thì không. Trong nước chúng đều nở ra, chúng có thể hòa tan trong dung dịch muối loãng nhưng không tan trong dung dịch muối bão hòa.
Các thành phần khác Lipid: là thành phần dễ bị oxi hóa, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng của collagen nên cần loại lipid trước khi trích ly. Khoáng: thành phần khoáng trong da cá chủ yếu là phosphate calci (Ca3(PO4)2) và carbonate calci (CaCO3). Thành phần này cũng có ảnh hưởng xấu đến chất lượng của collagen, để loại khoáng, cần ngâm acid trước trích ly. Sắc tố: ít tan trong nước và acid loãng, có thể tan trong dung dịch kiềm loãng (như dung dịch KOH, NaOH…).
Cấu trúc Collagen là loại protein cấu trúc trong cơ thể động vật, là thành phần chính của các mô liên kết, có khả năng đàn hồi và chịu lực rất cao. Collagen chiếm 25% tổng lượng protein của cơ thể người và chiếm khoảng 70% - 80% protein của da. Collagen có cấu trúc rất phức tạp. Phân tử collagen hay còn gọi là tropocollagen là những phần tử nhỏ, chúng sẽ tập hợp thành các phần tử lớn hơn là các sợi, và hình thành các bó sợi collagen.
Tropocollagen là một protein hình trụ dài khoảng 2.800 Å và đường kính 14-15 Å (Foegeding et al, 1996). Nó được tạo thành từ ba chuỗi polypeptide (chuỗi α) và do đó collagen có cấu trúc bậc 4. Ba chuỗi này xoắn lại với nhau hình thành một cuộn có hướng từ trái sang phải, gọi là triple helix, liên kết giữa các chuỗi là liên kết hydro. Mỗi chuỗi α có chứa khoảng 1000 axit amin (Wong, 1989) và có khối lượng phân tử khoảng 100 kDa.
Tổng khối lượng phân tử của tropocollagen khoảng 300 kDa (Foegeding et al, 1996). HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 5 Polypeptide của collagen có dạng xoắn ốc. Mỗi một chuỗi polypeptide trong collagen được cấu tạo từ các amino acid theo một trật tự, thông thường là Gly - Pro - Y, hoặc Gly - X – Hyp.
Trong đó, X, Y là những đơn vị amino acid khác. Proline (Pro) và hydroxyproline (Hyp) chiếm khoảng 1/6 chuỗi, glycine chiếm khoảng 1/3 chuỗi. Tổng cộng chỉ riêng proline, hydroxyproline, và glycine chiếm 1/2 chuỗi collagen. Các amino acid còn lại chiếm 1/2.
Tropocollagen liên kết với nhau theo kiểu đầu nối đuôi hình thành collagen fibril. Các collagen fibril này bó lại với nhau hình thành sợi collagen siêu cấp – collagen fiber. Vì thế collagen rất chắc, dai, và bền. Cấu trúc xoắn 3 của Collagen Hình 1.
Thứ tự bậc cấu tạo của Collagen HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 6 1. Sự khác nhau của collagen – collagen cá so với các loại protein khác [20] Collagen là protein đặc biệt so với các loại protein khác. Thành phần chủ yếu của collagen là các acid amin không phân cực như Alanine, Valine, Leucine, Isoleucine.
và chứa hàm lượng lớn các acid amin không thiết yếu. Collagen có chứa khoảng 20 loại acid amin, trong đó Glycine, Proline và Hydroxyproline chiếm hơn 50% thành phần acid amin. Collagen chứa hàm lượng Glycine (33%) và Proline (12%) với sự xuất hiện của 4-hydroxyproline (12%) và 5- hydroxylysine (1%) (Burghagen, 1999). Tuy nhiên, collagen lại là protein không chứa Tryptophan và Cystein.
Hydroxyproline và Hydroxylysine là hai acid amin rất hiếm gặp ở các loại protein khác hoặc có mặt với hàm lượng rất thấp. Đối với collagen thì Hydroxyproline là một acid amin đặc trưng trong thành phần hóa học. Hàm lượng collagen trong cơ cá phụ thuộc vào loài, quá trình phát triển và thức ăn của cá (Regenstein và Regenstein, 1991). Nói chung, hàm lượng collagen trong cơ cá dao động từ khoảng 1 - 12% protein thô.
Ở thịt cá tươi collagen chiếm 0,2 - 2,2% và 1,7 - 4,6% collagen trong da cá (Sikorski et al, 1990). Nhiệt độ biến tính của collagen cá thấp hơn so với collagen từ da lợn (Nagai và Suzuki, 2000) bởi vì collagen cá có chứa hàm lượng imino acid thấp hơn collagen động vật có vú (Foegeding etal, 1996. Mặt khác, nhiệt độ biến tính của collagen từ cá nước lạnh thấp hơn nhiều so với các loài cá ôn đới và nhiệt đới (Wang et al, 2008). Nhiệt độ biến tính (Tmax) của các collagen thu được từ các phần khác nhau của cá sẽ khác nhau như: collagen từ da (25,0 – 39,5ºC), collagen từ xương (29,5 - 30,0ºC) và collagen từ vây cá (28,0 - 29,1 º C), (Nagia và Suzuki, 2000).
Những giá trị này thấp hơn khoảng 7 - 12ºC so với collagen thu được từ da lợn. HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 7 1. Tính chất hóa lý của Collagen [5, 41, 56] Collagen là một loại protein cấu trúc dạng sợi nên nó có đầy đủ các tính chất hóa lý của một protein như tính kị nước, tính hydrat hóa, bị biến tính dưới tác dụng của nhiệt độ, pH.
Ngoài ra, nó còn có các tính chất đặc trưng của Collagen như: Khả năng trương nở Collagen không hòa tan trong nước mà nó hút nước để nở ra, cứ 100 g collagen khô có thể hút được khoảng 200 g nước, trong đó khoảng 70 g là nước liên kết và 20 g là liên kết vững chắc. Do nước phân cực nên làm suy yếu các liên kết hydro trong phân tử collagen dẫn đến làm giảm tính vững chắc của sợi collagen từ 3 ÷ 4 lần. Sự gia tăng độ trương nở dưới tác động của acid là kết quả của sự giảm nồng độ ion H+ tác động đến các anion acid, và tác động của bazơ gây ra bởi nồng độ nhóm OH- giảm ảnh hưởng đến các cation bazơ. Khả năng hòa tan: Collagen tan trong glycerin, acid acetic, ure nhưng không tan trong nước lạnh.
Nhưng khi thủy phân collagen thành những peptide có trọng lượng phân tử nhỏ thì nó lại có khả năng hòa tan trong nước lạnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến Collagen [19, 28, 40, 53] Ảnh hưởng của không khí Ở các độ tuổi khác nhau, trong cơ thể sống hay trong ống nghiệm, không khí có một vai trò quan trọng trong sự thay đổi cấu trúc hóa học của collagen (Sobel và Hansen, 1989). Sự oxy hóa sẽ làm thay đổi cấu trúc phân tử của các protein, nguyên nhân là do sự thay đổi về mặt hóa học. Ảnh hưởng của acid và kiềm Ảnh hưởng của acid Acid acetic có thể làm collagen trương nở 50% và tăng khả năng peptid hóa collagen hơn HCl ở pH 2,0.
Điều đó chứng tỏ rằng acid yếu (ví dụ như acid acetic) ở pH 2,0 cho phép phóng thích các proton từ nhóm cacboxyl của collagen. HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 8 Sự ảnh hưởng của HCl tới collagen: một số cation H+ kết hợp với anion – COO-. Quá trình này tiếp tục cho đến khi tất cả nhóm –COO- đã được phóng điện và tất cả nhóm cation đều ở dạng tự do.Vì vậy, pha nước bên trong cấu trúc collagen sẽ chứa nhiều Cl- hơn H+.
Sự phân phối ion khác nhau giữa hai pha tạo ra sự khác nhau về áp suất thẩm thấu và khả năng tích điện. Để tạo trạng thái cân bằng nồng độ ion giữa hai pha, nước chảy vào các phân tử collagen và gây ra sự trương nở. Ảnh hưởng của kiềm Trong trường hợp bazơ mạnh (như NaOH) khả năng trương nở của collagen gia tăng đặc biệt là các hydroxide của ion kim loại hóa trị hai ở pH > 10, ở pH này có sự chuyển hóa không thuận nghịch thành các ion. Sự phân hủy nhóm hydroxy của các acid amin (serin và threonine) và sự thủy phân của liên kết keto - imide giữa proline và hydroxyproline xảy ra trong suốt quá trình xử lý collagen bằng kiềm ở pH 12 ÷ 14.
Acid và kiềm đều có thể phân hủy collagen, collagen phân giải biến thành gelatine, căn cứ vào giả thuyết của Hofmeister phản ứng sẽ tiến hành như sau: Lúc xử lý ở nhiệt độ cao trong nước, gelatine dễ tiếp tục thủy phân thành: Ảnh hưởng của nhiệt độ: Nhiệt độ thấp: Collagen không hòa tan trong nước mà nó hút nước để nở ra, cứ 100g collagen khô có thể hút được khoảng 200g nước. Collagen kết hợp với nước nở ra trong nước, độ dày tăng lên chừng 25%, tổng thể tích của phân tử collagen tăng lên 2 – 3 lần. HVTH: Lê Thị Diễm Ngọc GVHD: PGS.PHAN ĐÌNH TUẤN MSHV: 10110190 TS. PHAN NGỌC HOÀ 9 Nhiệt độ cao: Nhiệt độ là nguyên nhân làm cho một số protein trong collagen bị biến tính.
Khi nhiệt độ tăng lên cao, tính hoạt động của mạch polypeptide tăng mạnh, làm cho mạch bị yếu và bắt đầu đứt thành những mạch polypeptide tương đối nhỏ. Khi nhiệt độ tăng lên trong khoảng 60 – 65qC collagen hút nước bị phân giải và nếu tiếp tục đun collagen sẽ tiếp tục thủy phân thành gelatin. Sự ổn định nhiệt được xem là tỷ lệ thuận với tổng lượng proline và hydroxyproline, collagen càng bền nhiệt khi lượng proline và hydroxyproline càng nhiều.