Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kỹ thuật "Nghiên cứu mô phỏng và xác định chế độ cấp đông hợp lý cho cá tra Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Hữu Hoàng, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TSKH. Đặng Quốc Phú và PGS. TS. Nguyễn Việt Dũng, chuyên ngành Kỹ thuật Nhiệt (mã số: 62520115) tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội vào năm 2014.
Về tính cấp thiết, cá tra (và basa) của Việt Nam là nguồn lợi thủy sản xuất khẩu chủ đạo tập trung tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Trong vòng 10 năm trước thời điểm nghiên cứu, sản lượng cá tra của Việt Nam đã tăng 50 lần, giá trị xuất khẩu tăng 65 lần và chiếm tới 90% thị phần thế giới, mang lại kim ngạch xuất khẩu gần hai tỷ USD. Mặc dù trang thiết bị cấp đông tại các nhà máy chế biến được đầu tư tương đối hiện đại, công nghệ cấp đông cá tra vẫn mang tính thủ công và phụ thuộc hoàn toàn vào kinh nghiệm thực tế của công nhân vận hành. Tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch trong khâu chế biến, bảo quản và vận chuyển thủy sản tại Việt Nam ở mức trên 20%, cao hơn so với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, suất tiêu hao điện năng để chế biến 1 kg cá da trơn dao động từ 0,4 đến 0,45 kWh/kg sản phẩm, trong đó giai đoạn làm lạnh và cấp đông chiếm trên 70% tổng năng lượng tiêu thụ (riêng hệ thống máy nén chiếm 72,86%). Việc kiểm tra thời gian cấp đông tại các nhà máy hiện nay được thực hiện bằng các thao tác định tính như gõ hai miếng cá vào nhau hoặc khoan đo nhiệt độ tâm thủ công, dẫn tới chất lượng sản phẩm không đồng đều và tiêu tốn nhiều năng lượng. Xuất phát từ yêu cầu của Nghị quyết 48/NQ-CP ngày 23/9/2009 của Chính phủ về việc giảm một nửa tổn thất sau thu hoạch đối với nông, lâm, thủy hải sản đến năm 2020, việc nghiên cứu có hệ thống về chế độ cấp đông hợp lý dựa trên cơ sở khoa học là vấn đề cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Xác định các thông số nhiệt vật lý phụ thuộc nhiệt độ của cá tra Việt Nam trong dải nhiệt độ từ -40°C đến 40°C bằng phương pháp thực nghiệm kết hợp xây dựng mô hình toán.
- Xây dựng mô hình toán và áp dụng phương pháp số để mô phỏng quá trình truyền nhiệt và chuyển pha bên trong cá tra trong quá trình cấp đông bằng thiết bị cấp đông rời dạng IQF.
- Dự đoán chính xác thời gian cấp đông và sự phân bố trường nhiệt độ trong sản phẩm, từ đó xác định chế độ cấp đông hợp lý (nhiệt độ môi trường làm lạnh và tốc độ gió) nhằm kiểm soát chất lượng và giảm suất tiêu hao điện năng.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình cấp đông cá tra (fillet) bằng thiết bị cấp đông rời dạng IQF. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào công nghệ chế biến cá da trơn tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long; phạm vi về thông số nhiệt độ khảo sát tính chất nhiệt vật lý được giới hạn trong dải từ -40°C đến 40°C.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả đã phân loại và điểm lại các hướng nghiên cứu chính liên quan đến tính toán và mô phỏng quá trình làm lạnh đông thực phẩm:
- Hướng nghiên cứu giải tích xác định thời gian cấp đông:
- Mô hình giải tích kinh điển của Plank (1913) giải bài toán dẫn nhiệt giả ổn định cho các dạng hình học cơ bản (tấm phẳng, hình trụ dài vô hạn, khối cầu).
- Các dạng công thức bán thực nghiệm và hiệu chỉnh hệ số hình học dựa trên phương trình Plank được phát triển bởi Nagaoka, Takagi, Hotani; F. L. Levy; Cleland & Earle (1984, 1986); Q. T. Phạm (1986). Các tác giả như McNabb (1990) và Hossain (1992) đã đưa ra các nghiệm chuỗi vô hạn hoặc đồ thị để xác định hệ số hình học $E$. Tác giả chỉ rõ hạn chế của nhóm phương pháp giải tích là giả định quá trình chuyển pha diễn ra tại một nhiệt độ cố định $T_f$, thông số nhiệt vật lý là hằng số và chỉ tìm được thời gian cấp đông chứ không mô tả được trường nhiệt độ bên trong vật thể, dẫn tới sai số thực tế có thể lên đến 50% đối với thực phẩm có dạng hình học phi tiêu chuẩn.
- Hướng nghiên cứu mô phỏng bằng phương pháp số:
- Các phương pháp giải hệ phương trình vi phân dẫn nhiệt phi tuyến kết hợp điều kiện biên: Phương pháp Sai phân hữu hạn (FDM), Phương pháp Thể tích hữu hạn (FVM) theo nghiên cứu của Patankar (1980) và Malan cùng cộng sự (2002), và Phương pháp Phần tử hữu hạn (FEM). Trong đó, FEM được đánh giá là phương pháp tối ưu đối với các vật thể có biên phức tạp và tính chất nhiệt vật lý phi tuyến.
- Hướng nghiên cứu mô hình toán dự đoán tính chất nhiệt vật lý của thực phẩm:
- Thành phần băng: Các mô hình của Chen (1985) dựa trên định luật Raoult, Schwartzberg (1976), Miles (1974), Tchigeov (1979) và Latyshev (1992).
- Nhiệt dung riêng: Các phương trình của Siebel (1892), Heldman & Singh (1981), Choi & Okos (1986), Schwartzberg (1976, 1981), Chen (1985), và mô hình hệ nhiệt động đa thành phần cân bằng có chuyển pha của trường phái Chumak.
- Enthalpy: Mô hình của Chang & Tao (1981), Chen (1985), Schwartzberg (1976), Q. T. Phạm (1994).
- Hệ số dẫn nhiệt: Các mô hình của Maxwell (1904), Kopelman (1966) cho hệ đẳng hướng và dị hướng, Levy (1981) áp dụng biểu thức Maxwell-Eucken hiệu chỉnh, Murakami & Okos (1989) theo mô hình song song và nối tiếp.
- Khối lượng riêng: Mô hình tổng quát của Choi & Okos (1986) tính theo phần trăm khối lượng các cấu tử.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Cho đến thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có công trình nào xác định đầy đủ bộ thông số nhiệt vật lý phụ thuộc vào nhiệt độ (nhiệt dung riêng hiệu dụng, hệ số dẫn nhiệt hiệu dụng, khối lượng riêng, hệ số dẫn nhiệt độ) của cá tra trong dải nhiệt độ từ -40°C đến 40°C. Đồng thời, việc mô phỏng truyền nhiệt cho đối tượng cá tra Việt Nam bằng phương pháp số có xét đến tính chất phi tuyến của nhiệt vật lý và điều kiện trao đổi nhiệt đối lưu cưỡng bức trong thiết bị IQF chưa được thực hiện bài bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên phương trình vi phân dẫn nhiệt tổng quát phi tuyến của Stefan (1889) viết cho một phân tố vật thể có chuyển pha:
$$C(T)\rho(T)\frac{\partial T(r, \tau)}{\partial \tau} = \text{div}[\lambda(T)\cdot\text{grad}T(r, \tau)] + q_v(r, \tau)$$
Trong đó $C(T)$ là nhiệt dung riêng (kJ/kg·K), $\rho(T)$ là khối lượng riêng ($\text{kg/m}^3$), $\lambda(T)$ là hệ số dẫn nhiệt (W/m·K), $q_v(r, \tau)$ là nguồn nhiệt trong do chuyển pha của nước ($\text{W/m}^3$), $T(r, \tau)$ là nhiệt độ phân tố theo tọa độ không gian và thời gian. Điều kiện biên cho quá trình cấp đông cá tra trong thiết bị cấp đông rời IQF được xác định là điều kiện biên loại 3 có tính đối xứng:
$$-\lambda\left(\frac{\partial T}{\partial n}\right)_w = \alpha (T_w - T_f)$$
với $\alpha$ là hệ số trao đổi nhiệt đối lưu giữa bề mặt cá và dòng không khí lạnh.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm sự kết hợp giữa thực nghiệm đo đạc và mô hình hóa toán học số trị:
- Phương pháp thực nghiệm: Tác giả sử dụng phương pháp không ổn định dạng xung nhiệt với que thăm dạng kép (nguồn nhiệt dạng đường) kết nối hệ thống tự động ghi số liệu qua máy tính để xác định hệ số dẫn nhiệt hiệu dụng $\lambda(T)$ và hệ số dẫn nhiệt độ $a(T)$. Thí nghiệm được tiến hành trên 3 mẫu cá tra có cùng kích thước hình học và khối lượng trong buồng thí nghiệm đối lưu kín có giải nhiệt độ làm việc từ -75°C đến 200°C (sai số điều khiển $\pm 0,3\text{ K}$, công suất máy nén $2 \times 1/2\text{ HP}$, môi chất R508a/R410a). Tốc độ không khí được đo bằng máy Testo 425 tại 27 điểm đo để chọn vùng có trường vận tốc ổn định ($V = 0,2 \pm 0,02\text{ m/s}$).
- Phương pháp số: Rời rạc hóa hệ phương trình vi phân đạo hàm riêng phi tuyến bằng Phương pháp Phần tử hữu hạn (FEM). Sơ đồ tích phân theo thời gian sử dụng sơ đồ nửa ẩn Cranck-Nicolson ($\theta = 1/2$):
$${[C] + 0,5\Delta\tau[K]}{T}^{p+1} = {[C] - 0,5\Delta\tau[K]}{T}^p + 0,5\Delta\tau({f}^{p+1} + {f}^p)$$
- Phương pháp tính toán thông số nhiệt vật lý: Sử dụng mô hình Choi & Okos (1986) cho khối lượng riêng; mô hình Levy (1981) kết hợp công thức Maxwell-Eucken cho hệ số dẫn nhiệt; mô hình Schwartzberg (1976) và Chen (1985) cho nhiệt dung riêng hiệu dụng; từ đó tính toán gián tiếp nhiệt dung riêng thực nghiệm theo công thức:
$$C_e(T) = \frac{\lambda(T)}{a(T)\cdot\rho(T)}$$
Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Mẫu cá tra được phân tích thành phần hóa học tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP. Hồ Chí Minh.
- Số liệu đo đạc thực nghiệm trường vận tốc gió (27 điểm đo) và các thông số $\lambda(T), a(T)$ trong dải nhiệt độ từ -40°C đến 40°C.
- Các tài liệu thống kê tiêu thụ năng lượng của ngành thủy sản Việt Nam và các tiêu chuẩn nhiệt vật lý của ASHRAE.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Chương này trình bày hiện trạng sản xuất, công nghệ cấp đông cá da trơn tại Việt Nam và cơ sở lý thuyết mô phỏng quá trình làm lạnh đông:
- Về công nghệ và kinh tế: Cá tra chiếm 90% sản lượng cá da trơn xuất khẩu của Việt Nam. Quy trình chế biến cá fillet đông lạnh sử dụng thiết bị cấp đông rời IQF dạng thẳng hoặc xoắn là chủ yếu; tủ cấp đông tiếp xúc (CF) ít được sử dụng do làm tăng lượng nước và giảm chất lượng sản phẩm. Suất tiêu hao điện năng chế biến là 0,4 - 0,45 kWh/kg sản phẩm. Bảng 1.1 và Bảng 1.2 trong văn bản chỉ ra suất tiêu hao điện của ngành thủy sản là 637,11 kWh/tấn sản phẩm, tiêu hao dầu DO là 35,837 lít/tấn sản phẩm; suất tiêu hao năng lượng của Việt Nam là 3.883,2 MJ/tấn sản phẩm, cao hơn 68% so với mức trung bình của thế giới. Trong cơ cấu tiêu thụ điện, thiết bị sản xuất chiếm 96%, riêng máy nén lạnh chiếm 72,86%, quạt dàn lạnh chiếm 30% và tủ cấp đông chiếm 27%.
- Đánh giá các phương pháp kiểm tra thực tế: Phương pháp xác định thời gian cấp đông tại nhà máy chủ yếu dựa vào gõ miếng cá hoặc dùng que đo nhiệt độ tâm thủ công (2-3 giờ/lần). Phương pháp này mang tính chủ quan vì miếng cá có dạng hình học phi tiêu chuẩn, khó xác định tâm thấm nhiệt thực tế.
- Phân tích lý thuyết mô phỏng truyền nhiệt: Tổng kết các dạng mô hình giải tích của Plank, Nagaoka, Levy, Cleland, và Phạm. Đánh giá bản chất quá trình chuyển pha thực tế diễn ra trong một dải nhiệt độ thay vì tại một điểm nhiệt độ cố định như các giả thiết giải tích. Phân tích ba phương pháp số giải bài toán dẫn nhiệt phi tuyến: Sai phân hữu hạn (FDM), Thể tích hữu hạn (FVM) và Phần tử hữu hạn (FEM), từ đó luận chứng lựa chọn phương pháp Phần tử hữu hạn là phù hợp nhất.
- Lý thuyết nhiệt vật lý: Khảo sát các mô hình dự đoán thành phần nước liên kết ($W_{wb} = 0,4W_p$), thành phần băng, nhiệt dung riêng hiệu dụng, enthalpy, hệ số dẫn nhiệt và khối lượng riêng của thực phẩm đa cấu tử.
Chương 2: Xác định tính chất nhiệt vật lý của cá tra bằng thực nghiệm và mô hình toán
Chương này tập trung xác định các thông số nhiệt vật lý của cá tra Việt Nam bằng phương pháp đo thực nghiệm và xây dựng mô hình toán tương ứng:
- Kết quả phân tích thành phần hóa học mẫu cá tra tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP. Hồ Chí Minh: Nước chiếm 67,3%; Protein chiếm 16,3%; Chất béo chiếm 15,4%; Tro chiếm 1,02%; Carbohydrate là 0%; Đường là 0%.
- Nhiệt độ bắt đầu kết đông của cá tra: Căn cứ vào thành phần các chất tan tương đồng với các nhóm cá có hàm lượng nước từ 59% đến 81% (đều có $t_f = -2,2^\circ\text{C}$ như Bảng 2.6 trong văn bản), tác giả xác định điểm bắt đầu kết đông của cá tra là $t_f = -2,2^\circ\text{C}$.
- Kết quả khảo sát trường vận tốc khí trong tủ thí nghiệm: Đo đạc tại 27 điểm bằng thiết bị Testo 425 cho thấy vận tốc khí phân bố không đều (từ 0,18 m/s đến 2,5 m/s), vận tốc trung bình là 0,797 m/s. Điểm đo xa quạt nhất có vận tốc trung bình 0,2 m/s với sai số $\pm 0,02\text{ m/s}$ được lựa chọn để đặt mẫu nhằm đảm bảo tính ổn định của điều kiện biên.
- Kết quả thực nghiệm đo $\lambda(T)$ và $a(T)$, tính toán khối lượng riêng $\rho(T)$ và nhiệt dung riêng gián tiếp $C_e(T)$ trong khoảng -40°C đến 40°C được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
| Nhiệt độ $t$ (°C) |
Hệ số dẫn nhiệt $\lambda_{tn}$ (W/m·K) |
Hệ số dẫn nhiệt độ $a_{tn}$ ($\text{m}^2/\text{s}$) |
Khối lượng riêng $\rho$ ($\text{kg/m}^3$) |
Nhiệt dung riêng $C_e$ (J/kg·K) |
| 40 |
0,436 |
$1,26 \times 10^{-7}$ |
1023 |
3380,9 |
| 35 |
0,439 |
$1,39 \times 10^{-7}$ |
1025 |
3080,9 |
| 30 |
0,471 |
$1,41 \times 10^{-7}$ |
1027 |
3253,6 |
| 25 |
0,464 |
$1,43 \times 10^{-7}$ |
1028 |
3156,1 |
| 20 |
0,459 |
$1,45 \times 10^{-7}$ |
1029 |
3075,4 |
| 15 |
0,476 |
$1,43 \times 10^{-7}$ |
1030 |
3230,5 |
| 10 |
0,448 |
$1,41 \times 10^{-7}$ |
1031 |
3080,6 |
| 5 |
0,452 |
$1,49 \times 10^{-7}$ |
1032 |
2938,6 |
| -5 |
1,158 |
$1,66 \times 10^{-7}$ |
1003 |
7026,5 |
| -10 |
1,300 |
$3,76 \times 10^{-7}$ |
992 |
3502,3 |
| -15 |
1,400 |
$5,20 \times 10^{-7}$ |
989 |
2730,0 |
| -20 |
1,410 |
$6,24 \times 10^{-7}$ |
988 |
2289,9 |
| -25 |
1,478 |
$7,84 \times 10^{-7}$ |
988 |
1910,9 |
| -30 |
1,505 |
$1,09 \times 10^{-6}$ |
989 |
1397,8 |
| -35 |
1,534 |
$1,18 \times 10^{-6}$ |
989 |
1316,5 |
| -40 |
1,573 |
$1,58 \times 10^{-6}$ |
989 |
1007,4 |
- Đánh giá quy luật biến thiên tính chất nhiệt vật lý:
- Vùng $5^\circ\text{C} \le t \le 40^\circ\text{C}$: Nước chưa đóng băng, các thông số ít biến đổi; dao động nhỏ là do sai số ngẫu nhiên của phép đo.
- Vùng $-5^\circ\text{C} < t < 5^\circ\text{C}$: Xảy ra quá trình chuyển pha, xuất hiện nhiệt ẩn đông đặc làm nhiệt dung riêng biểu kiến tăng vọt (đạt giá trị đỉnh tại điểm chuyển pha); hệ số dẫn nhiệt tăng mạnh do nước chuyển thành băng ($\lambda_{\text{băng}} \approx 4\lambda_{\text{nước}}$); khối lượng riêng giảm do thể tích riêng của băng tăng; hệ số dẫn nhiệt độ giảm xuống cực tiểu rồi tăng trở lại. Phương pháp que thăm xung nhiệt gây phá vỡ cấu trúc mẫu trong vùng này nên phải áp dụng mô hình giải tích để nội suy.
- Vùng $-40^\circ\text{C} \le t \le -5^\circ\text{C}$: Phần lớn nước đã đóng băng, nhiệt giải phóng chủ yếu là nhiệt hiện nên nhiệt dung riêng giảm dần từ 7026,5 J/kg·K về 1007,4 J/kg·K; hệ số dẫn nhiệt tiếp tục tăng từ 1,158 W/m·K lên 1,573 W/m·K; hệ số dẫn nhiệt độ tăng mạnh từ $1,66 \times 10^{-7}\text{ m}^2/\text{s}$ lên $1,58 \times 10^{-6}\text{ m}^2/\text{s}$.
- Xây dựng mô hình toán dự đoán:
- Mô hình khối lượng riêng Choi & Okos (1986): $\rho = 1023\text{ kg/m}^3$ tại 40°C, tăng lên $1033\text{ kg/m}^3$ tại 0°C, giảm xuống $989\text{ kg/m}^3$ tại -15°C và giữ ở mức $988\text{ kg/m}^3$ tại -40°C.
- Mô hình hệ số dẫn nhiệt theo Levy (1981): Coi cá tra gồm hai thành phần (nước muối và cơ khô ở trên điểm băng; mỡ/băng và cơ khô ở dưới điểm băng). Kết quả tính toán cho thấy $\lambda = 0,466\text{ W/m}\cdot\text{K}$ tại 40°C; $0,462\text{ W/m}\cdot\text{K}$ tại -2,2°C; và tăng lên $1,590\text{ W/m}\cdot\text{K}$ tại -40°C.
- Mô hình nhiệt dung riêng theo Chen (1985) và Schwartzberg (1976): Tại điểm bắt đầu kết đông $t_f = -2,2^\circ\text{C}$, nhiệt dung riêng theo Schwartzberg đạt $94,284\text{ kJ/kg}\cdot\text{K}$ (theo Chen đạt $94,127\text{ kJ/kg}\cdot\text{K}$); tại -40°C, nhiệt dung riêng giảm xuống $1,151\text{ kJ/kg}\cdot\text{K}$ (theo Chen đạt $1,625\text{ kJ/kg}\cdot\text{K}$).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới sau:
- Về mặt lý luận và học thuật:
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về các thông số nhiệt vật lý cơ bản phụ thuộc nhiệt độ của cá tra Việt Nam trong dải nhiệt độ rộng từ -40°C đến 40°C bao gồm hệ số dẫn nhiệt hiệu dụng $\lambda(T)$, hệ số dẫn nhiệt độ $a(T)$, khối lượng riêng $\rho(T)$ và nhiệt dung riêng hiệu dụng $C_e(T)$.
- Ứng dụng thành công mô hình cấu tử hai thành phần của Levy kết hợp biểu thức Maxwell-Eucken hiệu chỉnh và mô hình Schwartzberg để mô tả chính xác sự thay đổi đột ngột của các tính chất nhiệt vật lý trong vùng chuyển pha của cá tra.
- Thiết lập mô hình toán truyền nhiệt phi tuyến chuyển pha sử dụng phương pháp Phần tử hữu hạn (FEM) với điều kiện biên đối lưu cưỡng bức loại 3, phản ánh sát thực tế quá trình cấp đông cá tra trong thiết bị IQF.
- Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
- Xóa bỏ việc xác định chế độ cấp đông bằng cảm tính và kinh nghiệm thủ công tại các nhà máy chế biến cá da trơn vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Cung cấp công cụ tính toán số cho phép dự đoán chính xác thời gian cấp đông và phân bố trường nhiệt độ bên trong sản phẩm theo thời gian thực.
- Tạo tiền đề khoa học cho việc tối ưu hóa chế độ vận hành (tốc độ băng chuyền, nhiệt độ gió cấp, công suất quạt dàn lạnh và máy nén), góp phần hiện thực hóa mục tiêu tiết kiệm năng lượng điện (vốn chiếm trên 70% ở khâu làm lạnh đông) và giảm tổn thất sau thu hoạch theo Nghị quyết 48/NQ-CP của Chính phủ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Điều kiện thiết bị nghiên cứu tại Việt Nam chưa cho phép thực hiện phép đo nhiệt dung riêng trực tiếp trong vùng nhiệt độ kết đông bằng phương pháp nhiệt lượng kế quét vi sai (DSC) kết hợp làm lạnh sâu bằng Heli lỏng, cũng như chưa thể đo trực tiếp hàm lượng nước đóng băng bằng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân (NMR). Do đó, giá trị nhiệt dung riêng trong vùng lân cận điểm băng (-5°C đến 5°C) phải dựa trên tính toán mô hình lý thuyết và xác định gián tiếp qua $\lambda$ và $a$.
- Nghiên cứu chưa xem xét chi tiết quá trình hao hụt khối lượng do bốc hơi ẩm trên bề mặt trong mô hình số, vì trên thực tế quy trình công nghệ chế biến cá tra đều có công đoạn mạ băng bảo vệ sau khi cấp đông rời.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Ứng dụng thiết bị DSC chuyên dụng để đo đạc trực tiếp đường cong nhiệt dung riêng hiệu dụng và nhiệt ẩn chuyển pha trong dải nhiệt độ biến đổi pha đột ngột quanh điểm kết đông của cá tra.
- Phát triển mô hình hình học không gian 3 chiều chi tiết mô phỏng chính xác biên dạng thực của miếng cá fillet để đánh giá trường nhiệt độ không gian đầy đủ hơn.
- Triển khai thuật toán điều khiển tự động tối ưu hóa tốc độ băng tải IQF dựa trên mô hình mô phỏng truyền nhiệt tại quy mô công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật Nhiệt, Điện lạnh và Công nghệ sau thu hoạch: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp đo thông số nhiệt vật lý bằng xung nhiệt, thuật toán giải phương trình dẫn nhiệt phi tuyến chuyển pha bằng phương pháp phần tử hữu hạn, và phương pháp xác định điều kiện biên đối lưu trong thiết bị chế biến thực phẩm.
- Kỹ sư thiết kế hệ thống lạnh và cán bộ kỹ thuật tại các nhà máy chế biến thủy sản: Cung cấp bảng số liệu chuẩn về nhiệt dung riêng, hệ số dẫn nhiệt, khối lượng riêng của cá tra theo nhiệt độ để tính toán phụ tải nhiệt chính xác cho hầm đông, tủ đông IQF; từ đó định cỡ công suất máy nén và thiết bị bay hơi hợp lý, tránh lãng phí điện năng tiêu thụ.
- Các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách năng lượng, nông nghiệp: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để đánh giá tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong ngành công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Câu hỏi thường gặp
1. Suất tiêu hao năng lượng trong chế biến thủy sản của Việt Nam chênh lệch như thế nào so với thế giới?
Theo số liệu thống kê trong luận án, suất tiêu hao năng lượng trung bình trong chế biến thủy sản của Việt Nam là 3.883,2 MJ/tấn sản phẩm, cao hơn 68% so với mức suất tiêu hao năng lượng trung bình của các nước trên thế giới. Suất tiêu hao điện năng riêng biệt là 637,11 kWh/tấn sản phẩm và dầu DO là 35,837 lít/tấn sản phẩm.
2. Thành phần cấu tạo hóa học cơ bản của mẫu cá tra Việt Nam dùng trong nghiên cứu gồm những gì?
Mẫu cá tra được phân tích tại Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm TP. Hồ Chí Minh có tỷ lệ phần trăm khối lượng: Nước chiếm 67,3%; Protein chiếm 16,3%; Chất béo chiếm 15,4%; Tro chiếm 1,02%; thành phần Carbohydrate và Đường đều bằng 0%.
3. Nhiệt độ bắt đầu kết đông ($t_f$) của cá tra được xác định là bao nhiêu và dựa trên cơ sở nào?
Nhiệt độ bắt đầu kết đông của cá tra được chọn là $t_f = -2,2^\circ\text{C}$. Giá trị này được lựa chọn dựa trên sự tương đồng về hàm lượng nước và cấu tử chất tan giữa cá tra với các nhóm cá có thành phần tương tự đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm công bố trong tài liệu tham khảo của luận án (như cá tuyết, cá trích, cá thu, cá hồi đều có $t_f = -2,2^\circ\text{C}$).
4. Vì sao phương pháp xung nhiệt bằng que thăm không thể đo đạc chính xác tính chất nhiệt vật lý của cá tra trong khoảng nhiệt độ từ -5°C đến 5°C?
Trong khoảng nhiệt độ từ -5°C đến 5°C diễn ra quá trình biến đổi pha lỏng - rắn của nước, phát sinh nhiệt ẩn đông đặc và làm biến đổi cấu trúc tế bào; việc cắm que thăm nhiệt và cấp xung nhiệt điện trở sẽ làm phá vỡ cấu trúc tinh thể băng đang hình thành trong mẫu, dẫn tới sai số rất lớn và không thể đo đạc chính xác bằng phương pháp xung nhiệt thông thường.
5. Tại sao nghiên cứu có thể bỏ qua hao hụt khối lượng do bốc hơi nước của cá tra trong quá trình cấp đông IQF?
Mặc dù sự chênh lệch áp suất riêng phần của hơi nước giữa bề mặt sản phẩm và không khí lạnh gây ra hiện tượng bốc hơi nước làm hao hụt khối lượng, nhưng trong thực tế công nghệ chế biến cá tra xuất khẩu, sản phẩm fillet sau khi ra khỏi băng chuyền IQF đều trải qua công đoạn mạ băng bảo vệ bề mặt trước khi bao gói kín, do đó yếu tố hao hụt khối lượng này được phép bỏ qua trong mô hình tính toán.
Kết luận
Luận án của tác giả Đỗ Hữu Hoàng đã giải quyết trọn vẹn bài toán xác định tính chất nhiệt vật lý của cá tra Việt Nam trong dải nhiệt độ từ -40°C đến 40°C thông qua kết hợp giữa phương pháp xung nhiệt thực nghiệm và các mô hình giải tích cấu tử hai pha của Levy, Choi & Okos, và Schwartzberg. Nghiên cứu đã chứng minh sự biến thiên phi tuyến rõ rệt của hệ số dẫn nhiệt, nhiệt dung riêng hiệu dụng và hệ số dẫn nhiệt độ trong vùng chuyển pha quanh điểm bắt đầu kết đông $t_f = -2,2^\circ\text{C}$. Kết quả nghiên cứu là nền tảng khoa học quan trọng cho việc ứng dụng phương pháp phần tử hữu hạn để mô phỏng truyền nhiệt, từ đó tối ưu hóa công nghệ cấp đông IQF, nâng cao chất lượng cá tra xuất khẩu và giảm thiểu suất tiêu hao điện năng trong các nhà máy chế biến thủy sản tại Việt Nam.