Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các lí thuyết liên quan và các mô hình, kết quả nghiên cứu trước liên quan đề tài. Tác giả phân tích và đánh giá để đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu.
Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Dữ liệu thu thập được tiến hành xử lý bằng chương trình SPSS 20 và AMOS 24. Dữ liệu được phân tích bằng một số kỹ thuật để kiểm định các giả thuyết một cách chặt chẽ, bền vững. Trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kết luận và hàm ý quản trị phù hợp và đáp ứng được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân" (Social Responsibilities of the Businessman) của Bowen (1953) đã công bố thuật ngữ “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" nhằm mục đích tuyên truyền kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội. Đây là cuộc thảo luận toàn diện đầu tiên về đạo đức kinh doanh và TNXH.
Nó tạo nền tảng cho các nhà điều hành kinh doanh và các học giả xem xét, nhằm đưa ra các kế hoạch, chiến lược kinh doanh để phát triển công ty. Từ đó đến nay, thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số người xác định TNXH nhằm hàm ý nâng cao hành vi của DN lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội (Prakash Sethi, 1975). Theo Carroll (1979) TNXHDN bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức.
Đến nay đã có rất nhiều khái niệm về TNXH. Theo Hội Đồng Kinh Doanh Thế Giới Vì Sự Phát Triển Bền Vững “TNXHDN là sự cam kết của DN đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống, của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng như phát triển chung của xã hội". Theo như khái niệm trên, thực hiện trách nhiệm xã hội chính là cam kết hoạt động kinh doanh có đạo đức, nghĩa là DN không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ, đóng góp cho địa phương, là nơi DN hoạt động cũng như toàn cộng đồng nói chung. DN thực hiện tốt TNXH không những tránh được các rủi ro pháp lý liên quan đến lao động, môi trường mà còn được hưởng lợi rất nhiều từ việc tiết kiệm chi phí, cải thiện năng suất, nâng cao giá trị thương hiệu, tăng khả năng thu hút lao động giỏi, qua đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.
Thêm vào đó, DN thực hiện TNXH là góp phần 7 cùng với Chính phủ và các đối tác trong xã hội giải quyết các thách thức phát triển bền vững như xóa đói giảm nghèo, ứng phó với biến đổi khí hậu, thực hiện bình đẳng giới, phòng chống tham nhũng. Lý thuyết các bên liên quan Freeman và Reed (1983) cho rằng các bên liên quan của DN bao gồm các cá nhân và nhóm hưởng lợi hoặc tổn hại lợi ích từ các hoạt động của DN. Theo nghĩa hẹp thì các bên liên quan là những nhóm người rất quan trọng đối với hoạt động và thành công của DN. Hiểu rộng hơn thì các bên liên quan bao gồm bất kỳ cá nhân hoặc nhóm người nào có thể tạo ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi DN.
Baron (1995) chia các đối tượng liên quan thành hai nhóm: phi thị trường và thị trường. Nhóm thị trường bao gồm: nhân viên, khách hàng, đối tác, nhà cung cấp thường và đối thủ cạnh tranh, nhóm phi thị trường bao gồm: chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tiêu chuẩn, các kênh truyền thông, xã hội hoặc cộng đồng. Nhân viên là bên liên quan quan trọng nhất của DN, lợi ích của họ phải luôn được chú trọng Clarkson (1995). Hoạt động TNXHDN ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân viên tại môi trường làm việc.
Nhân viên không chỉ mong đợi DN thực hiện TNXH, mà còn là một thành phần quan trọng quyết định đến sự thành công của chiến lược TNXHDN Peterson (2004). Thành công của các kế hoạch TNXHDN phụ thuộc phần lớn vào sự tự nguyện của nhân viên khi hợp tác và tuân thủ chiến lược TNXHDN Collier và Esteban (2007). Đối với DN, đảm bảo quyền lợi của nhân viên sẽ kích thích tính sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cải tiến mẫu mã hàng hóa và thúc đẩy quá trình cải tiến trong hoạt động quản lý từ đó mang lại thành công và phát triển cho DN Brennan (2002). Trách nhiệm xã hội nội bộ của doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu đã chia các hoạt động xã hội của DN thành TNXH nội bộ và TNXH bên ngoài của DN Hameed & cộng sự (2016).
Tham khảo các thực hành TNXH nội bộ đối với các thực hành TNXH liên quan trực tiếp đến môi trường làm việc thể chất và tâm lý của nhân viên Turker 8 (2009). Nó thể hiện sự quan tâm đến sức khỏe và hạnh phúc của nhân viên, đào tạo và phát triển, bình đẳng về cơ hội, mối quan hệ giữa công việc và gia đình Vives (2006). Lý do chính để TNXH trở nên quan trọng là do thực tế là nó liên quan đến hạnh phúc của tất cả các bên liên quan trong tổ chức và đặc biệt là trong lĩnh vực nguồn nhân lực. TNXH cũng liên quan đến TNXH thực hành cho nhân viên, đặc biệt là trong lĩnh vực an toàn, sức khỏe và hạnh phúc của họ, đào tạo và phát triển, bình đẳng về cơ hội và mối quan hệ giữa công việc và gia đình Vives (2006).
Hoạt động TNXH nội bộ biểu thị các chính sách và hoạt động của tổ chức ảnh hưởng tới sự hạnh phúc về mặt tâm lý và sinh lý của nhân viên của tổ chức đó Brammer & cộng sự (2007). Những chính sách và hoạt động này bao gồm các khía cạnh: sức khỏe và an toàn, sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, đào tạo và phát triển, quan hệ lao động và đối thoại xã hội Nguyễn Ngọc Thắng (2017). Bên cạnh đó, TNXH cũng đề cập đến quyền con người và bình đẳng và đa dạng (Al-Bdour & Altarawneh, 2012). Quyền con người có những khía cạnh khác nhau như tôn trọng sự riêng tư của nhân viên, không gian vật chất và sự thân thuộc, tôn trọng các quan điểm, niềm tin khác nhau và nhân cách.
Được đối xử tôn trọng đối với nhân viên quan trọng hơn những đãi ngộ khác (Ali & cộng sự, 2010). Bên cạnh đó, cơ hội làm việc bình đẳng không phân biệt giới tính, chủng tộc và dân tộc. Nó đề cập đến việc tuyển dụng và thăng chức một người hoàn toàn dựa trên khả năng của họ, bình đẳng và sự đa dạng đối xử với tất cả mọi người như nhau (Chepkwony & cộng sự, 2015). Sức khỏe và an toàn Khái niệm an toàn vượt ra ngoài những tổn thương hoặc mất mát về thể chất.
Nó bao hàm cảm xúc và phúc lợi của nhân viên. Bất kể chấn thương và bệnh tật tại nơi làm việc có thể phá hủy chất lượng cuộc sống. Nó phá hủy triển vọng công việc và sự thăng tiến không chỉ ảnh hưởng đến nhân viên mà còn về gia đình của họ. Do 9 tính chất nghiêm trọng của vấn đề, các bên liên quan mong muốn từ các tổ chức chứng minh môi trường làm việc an toàn và lành mạnh cho nhân viên.
Tương tự như trong phần thảo luận trước đó, một số yếu tố như ánh sáng thích hợp, thông gió, sạch sẽ xử lý chất thải, không gian làm việc hợp lý, nước uống, nghỉ ngơi và việc ăn uống có thể tạo ra một môi trường làm việc tích cực và niềm tin trong công việc về mặt nội bộ của TNXH. An toàn là một trong những nhu cầu cơ bản của con người. Cảm giác an toàn và hài lòng trong công việc giúp nâng cao niềm tin vào tổ chức. Hơn nữa Aswathappa (2004) tuyên bố an toàn là một phương tiện giúp bạn tránh khỏi rủi ro thương tật, tổn thất, sức khoẻ cũng như đảm bảo nguồn nhân lực và liên kết với sự phát triển kinh tế của tổ chức.
Sức khỏe và sự an toàn là một lĩnh vực bị bỏ quên ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, nơi họ bỏ qua và không thực hiện chúng đúng cách. Nếu các quy tắc phù hợp được áp dụng, chúng có thể mang lại một số thay đổi tích cực như đạo đức cao, tính thường xuyên cho nhân viên, mặc dù bỏ ra chi phí thấp nhưng sẽ đạt năng suất cao cho tổ chức. Các tổ chức có thể nâng cao chất lượng công việc của nhân viên bằng cách cung cấp dịch vụ tư vấn khi bị căng thẳng và tập trung vào thể chất Grawitch & cộng sự (2007) bởi vì nhân viên là nguồn sống của các tổ chức. Cân bằng giữa công việc và cuộc sống Cân bằng cuộc sống và công việc không phải là một khái niệm cũ.
Điều này đã được thảo luận lần đầu tiên vào năm 1972 tại hội nghị Quan hệ Lao động Quốc tế và được phổ biến vào năm 1989 với tên gọi Chất lượng Công việc Cuộc sống (QWL) Kaighobadi & cộng sự (2008). Tài liệu cho rằng không có bất kỳ sự đồng ý nào về định nghĩa về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Quan sát của các nghiên cứu trước đây coi cân bằng cuộc sống và công việc là các sắp xếp mà công ty thực hiện cho nhân viên và gia đình của họ, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của họ, nâng cao kinh nghiệm của họ trong công việc.