phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, mục lục, kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn MDF Hòa Bình. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tạo động lực lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn MDF Hòa Bình. 6 1CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Một số khái niệm 1.Nhu cầu “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [8, tr. “ “Nhu cầu gắn liền với với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội.
Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp, song cơ bản nó được chia thành 3 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội. “ “ Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi. Với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo từng quan điểm của từng cá nhân. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con người phải tìm cách để đáp ứng.
Người lao động cũng như vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn. Để có thể thỏa mãn được những mong muốn này, mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao và ngược lại.Động cơ “Động cơ là những nỗ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người, có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân theo mức độ mong muốn” “Là sự phản ánh thế giới khách quan vào con người, nó thúc đẩy con người hoạt động theo một tiêu chuẩn nhất định nhằm thoả mãn các nhu cầu, tình cảm của con người. Động cơ rất trừu tượng và khó xác định vì: Một là: Nó thường được che dấu động cơ thực vì nhiều lý do khác nhau, do yếu tố tâm lý, do quan điểm xã hội. 7 “Hai là: Động cơ luôn biến đổi theo môi trường sống và biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con người sẽ có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau.
Khi đói khát thì động cơ làm việc để được ăn no mặc ấm, khi đã đủ cơm ăn áo mặc thì động cơ thúc đẩy làm việc luôn giàu có, muốn thể hiện… Do vậy để nắm bắt được động cơ thúc đẩy người lao động làm việc ta phải xét tới từng thời điểm cụ thể, môi trường cụ thể, đối tượng lao động cụ thể. “ “Ba là: Động cơ rất phong phú, điều này có nghĩa là người lao động là do yếu tố thúc đẩy nhưng các yếu tố này có tính chất quan trọng khác nhau đối với người lao động, do tính chất này mà người quản lý thường khó nắm bắt được động cơ chính của người lao động. “ “Ba đặc điểm trên làm cho việc nắm bắt động cơ là khó khăn, do đó khó thực hiện các chính sách thúc đẩy đối với người lao động, một người quản lý giỏi không những nắm bắt động cơ của người lao động một cách chính xác, mà còn phải biến những động cơ không lành mạnh, không có thực của người lao động phù hợp với tiêu chuẩn, khả năng đáp ứng của đơn vị.Động lực lao động “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm làm tăng cường mọi nỗ lực để đạt mục đích hay kết quả cụ thể. Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này thường xuyên thay đổi, trừu tượng và khó nắm bắt.
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương(2003). “Động lực làm việc là những mong muốn, khát khao của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức” Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn( 2016) “ “Từ những khái niệm trên có thể hiểu, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì động lực của mỗi con người khác nhau nên nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau để đạt 8 được mục tiêu trong quản lý.
Theo cách hiểu này, động lực lao động có được không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động. “ “Động lực bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, các yếu tố này thường xuyên thay đổi, trừu tượng và khó nắm bắt. Có thể kể ra một số nhân tố sau: Nhân tố thuộc về bản thân người lao động, các nhân tố thuộc về công việc, các nhân tố thuộc về tổ chức và môi trường làm việc. Các nhân tố này rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi người quản lý phải biết kết hợp tối ưu các nhân tố thúc đẩy khả năng, phạm vi nguồn lực của tổ chức để vừa đạt được mục tiêu cá nhân người lao động vừa đạt được mục tiêu tổ chức.
“ “Các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Điều họ quan tâm là làm sao để những chi phí mình bỏ ra có thể mang lại hiểu quả lớn nhất. Người lao động là tài nguyên của tổ chức đồng thời là một yếu tố rất lớn cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên họ sẽ quan tâm tới việc làm thế nào để người lao động làm việc hăng say, đạt kết quả tốt và làm thế nào để có thể sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Như vậy vấn đề tổ chức quan tâm đến là tạo động lực cho người lao động.
“ “Động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Điều đó có thể lý giải tại sao một người bắt đầu làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp có trình độ cao nhưng kết quả thực hiện công việc lại thấp hơn kỳ vọng của tổ chức là do người đó đã không có động lực làm việc. Cùng với quá trình phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi chính mỗi thành viên trong đó phải nỗ lực không ngừng để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quá trình đào tạo có tác động rất lớn đến việc nâng cao khả năng của cá nhân, khi người đó có động lực càng cao thì càng muốn học tập để phát triển bản thân, và khi khả năng tăng đồng nghĩa với việc tăng động lực làm việc.
“ “Khi người lao động có động lực làm việc sẽ tự giác dồn hết khả năng để thực 9 hiện công việc được giao sao cho có hiệu quả, góp phần giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Thực tế lợi ích có quan hệ rất chặt chẽ với động lực làm việc, nhưng lợi ích của cá nhân và lợi ích của tập thể lại luôn mâu thuẫn. Để người lao động có thể tự nguyện làm việc theo các định hướng của doanh nghiệp thì cần cho họ thấy rõ lợi ích của bản thân người lao động chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được, tức là phải hướng mục tiêu cá nhân theo mục tiêu của tổ chức. Làm được điều đó chính là tạo động lực lao động, và đó chính là khả năng tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp.Tạo động lực lao động “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc” Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2003).
Đây cũng là trách nhiệm và là mục tiêu của nhà quản lý. Ở một góc độ khác “Tạo động lực lao động là hệ thống, chính sách, cách ứng xử của doanh nghiệp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và doanh nghiệp”Lê Thanh Hà (2009). Tạo động lực làm việc cho người lao động là quá trình làm nảy sinh động cơ trong mỗi cá nhân người lao động. “Do đó tạo động lực được hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động xuất hiện động lực trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức.
Mục tiêu của tổ chức là làm sao sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có của mình để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu phát triển chiến lược của tổ chức. Vì vậy để người lao động luôn toàn tâm toàn ý trong công việc của tổ chức thì cần có các biện pháp cụ thể, rõ ràng để người lao động yên tâm công tác và công hiến hết mình vì mục tiêu chung của tổ chức.” “Trong quá trình làm việc tại tổ chức của người lao động, công việc luôn lặp đi lặp lại, nên công việc của người lao động luôn có xu hướng bị nhàm chán. Ngoài ra tâm lý của người lao động còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trong quan hệ công 10 việc và quan hệ xã hội. Vì thế, mà động lực làm việc của họ bị giảm sút, và cuối cùng họ quyết định rời khỏi tổ chức để tìm kiếm một cơ hội mới cho mình.
Cho nên, các tổ chức cần có các biện pháp kịp thời để kích thích, khuyến khích tinh thần làm việc của người lao động bằng cách tạo ra môi trường làm việc để người lao động có thể phát huy tinh sáng tạo của mình trong công việc và luôn tạo thử thách trong công việc cho người lao động để họ cảm thấy không bị nhàm chán trong công việc mình làm. “ “Khi người lao động có tinh thần sảng khoái thì công việc thực hiện tốt hơn rất nhiều. Từ đó năng suất lao động được tăng lên.