CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. Khái niệm và vai trò của tạo động lực lao động 1. Các khái niệm cơ bản Nhu cầu, lợi ích “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn”.
[1, tr91] Người lao động trong tổ chức có xu hướng làm việc tích cực hơn nếu được lãnh đạo quan tâm, trọng dụng. Đặc biệt khi tham gia tổ chức, người lao động thấy được sự quan tâm, sự coi trọng và tạo hết điều kiện của tổ chức đến những nhu cầu cá nhân của họ, thì họ sẽ rất phấn khởi. Qua đó, người lao động sẽ có tâm lý thoải mái, suy nghĩ tích cực từ đó tăng cường hiệu quả công việc. Việc xác định, nắm bắt được đúng những nhu cầu hay mong muốn và thỏa mãn dần đần các nhu cầu đó sẽ tạo động lực rất nhiều cho người lao động nỗ lực hơn trong công việc.
Nhu cầu của con người sẽ thay đổi khi được thỏa mãn và có xu hướng ngày càng tăng dần lên và càng về sau thì nhân tố chất lượng được ưu tiên hơn. “Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định.” [2] Lợi ích chính là mức độ người lao động thông qua một hoạt động nào đó sẽ đạt được mong muốn nào đó của bản thân. Con người được thỏa mãn cả càng nhiều nhu cầu của bản thân thì lợi ích thu về càng nhiều. Động lực lao động: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyên của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
[5, tr134] 9 Động lực lao động có đặc điểm: “Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc cụ thể, môi trường làm việc cụ thể và với một tổ chức cụ thể, không có động lực chung chung. Động lực không gắn với cá nhân cụ thể nào, có thời điểm cá nhân có động lực nhưng có thời điểm cá nhân đó lại mất đi động làm việc. Một trong các giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả lao động chính là động lực lao động. Nếu không có động lực thì người lao động vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, nếu động lực của người lao động mất hoặc suy giảm thì khả năng thực hiện công việc cũng giảm và khi mất hẳn thì người lao động có xu hướng rời bỏ tổ chức”. [1, tr86]: Tạo động lực cho người lao động Để xây dựng tổ chức vững mạnh thì người quản lý cần biết kích thích người lao động của mình, làm sao để người lao động luôn nhiệt tình với các hoạt động của tổ chức, hăng say với công việc. “Tạo động lực lao động được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức”. [4, tr145] Nhà quản lý cần khéo léo, sử dụng các cách thức, biện pháp để hướng người lao động vào các mục tiêu chung của đơn vị.
Tổ chức phải biết rằng nếu muốn tận dụng được tối đa nguồn lực con người, khai thác hết được tiềm năng, năng lực của người lao động thì phải tạo được động lực, tạo ra cơ hội để người lao động phấn đấu đạt được. Vai trò của tạo động lực lao động Đối với bản thân người lao động: Động lực lao động là yếu tố thúc đấy người lao động làm việc tích cực và có trách nhiệm hơn trong công việc, vượt qua nhiều khó khăn để thực hiện tốt công việc trong tổ chức, qua đó làm tăng hiệu quả công việc. 10 Bên cạnh đó, tạo động lực giúp người lao động không bị mệt mỏi, không bị áp lực tâm lý bởi công việc. Tổ chức càng quan tâm, tạo điều kiện cho người lao động họ có được động lực khi làm việc thì chất lượng công việc tăng lên, chi phí sản xuất sẽ giảm năng suất lại cao.
Người lao động được tạo động lực sẽ cảm thấy hiểu rõ và mong muốn được THCV. Ngoài ra, khi người lao động thấy được sự quan tâm của tổ chức, thấy được sự coi trọng của tổ chức, thấy được sự phát triển của bản thân khi tham gia vào tổ chức …thì người lao động sẽ đem hết sức lực của mình cống hiến cho tổ chức, tích cực hơn trong công việc, phát huy tài năng của bản thân từ đó giúp công việc hoàn thành với kết quả cao và gắn bó với tổ chức hơn nữa. Đối với tổ chức: Tổ chức cần tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động phát huy khả năng của mình, tạo cho người lao động tinh thần thoải mái, tăng sự gắn kết của họ với tổ chức. Mục tiêu của bất kỳ một tổ chức nào khi thành lập đó chính là sự phát triển ổn định, hiệu quả hoạt động cao và chính việc tạo động lực cho người lao động đã góp một phần không nhỏ vào kết quả đó.
Quá trình tạo động lực được thực hiện liên tục sẽ giúp tổ chức đưa ra các chính sách khác cho tổ chức như tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng lao động một các hợp lý hơn, có thể tận dụng được tối đa năng lực của lao động. Khi đơn vị thiết kế và triển khai được các chính sách tạo động lực khoa học, phù hợp với đơn vị thì sẽ nâng chất lượng nguồn nhân lực lên rất nhiều. Qua đó tạo được thương hiệu của tổ chức trên thị trường và từ đó thu hút được nhiều lao động có năng lực, chuyên môn cao. Việc triển khai các biện pháp tạo động lực cho người lao động để kích thích tinh thần người lao động đã đóng góp một phần không nhỏ vào hoạt động phát triển của tổ chức.
Người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Đơn vị sự nghiệp công lập ĐVSNCL: “Là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. ĐVSNCL gồm: - ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là ĐVSNCL được giao quyền tự chủ). - ĐVSNCL chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự.
Công chức Theo quy định của Luật cán bộ công chức thì “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn bị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 1. Viên chức Theo Luật Viên chức quy định thì “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập 12 theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Một số học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết Hệ thống nhu cầu của Maslow Abraham Maslow cho rằng con người có vô vàn các nhu cầu.
Chính sự phong phú, đa dạng đó nên con người không bao giờ thỏa mãn được hết nhu cầu của mình và từ đó họ luôn khao khát được thỏa mãn. Ông chia các nhu cầu thành 05 nhóm: Hình 1.1: Hệ thống tháp nhu cầu của Maslow “Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản duy trì sự tồn tại tự nhiên của cơ thể bao gồm các nhu cầu: ăn, ở, mặc, nghỉ ngơi… Maslow quan niệm rằng khi những nhu cầu cơ bản này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để có thể duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được con người. Nhu cầu an toàn: sau khi đã thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cơ bản, nhóm nhu cầu sinh lý không còn là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người làm việc và thay vào đó là nhu cầu an toàn. Ở mức nhu cầu này con 13 người sẽ có những phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân.
Tức là, người lao động thích được làm việc trong những nơi có điều kiện an toàn, không thích làm việc trong những nơi có điều kiện nguy hiểm. Nhu cầu xã hội: Maslow cho rằng, con người không sống và làm việc một cách cô lập mà con người luôn mong muốn được người khác chú ý, tiếp nhận, quan tâm, yêu mến và cảm thông, tức là được ở trong quần thể nào đó chứ không muốn là một kẻ cô độc trong xã hội hay tổ chức. Nhu cầu giao tiếp là một nhu cầu tế nhị so với nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn. Mức độ của nhu cầu này ở mỗi người có sự khác nhau, tùy theo tính cách, quá trình công tác, trình độ học vấn của mỗi người.
Nhu cầu được tôn trọng: nhu cầu này dẫn tới những sự thỏa mãn như quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin. Nhu cầu này bao gồm: nhu cầu tự tôn trọng và nhu cầu được người khác tôn trọng. Người lãnh đạo phải chú ý nghiên cứu đặc điểm nhu cầu của người lao động và tìm cách thỏa mãn nhu cầu của họ chú ý không nên làm tổn thương ý thức tự trọng của họ. Chỉ có như vậy mới khơi dậy tính chủ động, tích cực của họ trong công tác”.
Nhu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là “Nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt được các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo”.