CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trước đây, khi hệ thống ngân hàng và công nghệ tài chính chưa phát triển, chúng ta thường thanh toán tại các siêu thị, các cửa hàng, các quán thức ăn nhanh… bằng tiền mặt là chủ yếu. Tuy nhiên, với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế, thương mại, điện tử và đặc biệt là công nghệ thông tin đã làm cuộc sống chúng ta có sự thay đổi tích cực về mọi mặt, thêm phần tiện ích và dễ dàng hơn trong các hoạt động thanh toán, tích lũy trên nhiều lĩnh vực.
Việc phát triển các dịch vụ thanh toán, tích lũy trên nền tảng công nghệ số là xu hướng khách quan trong nền kinh tế hiện đại và trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời gian gần đây, nổi lên một nền tảng công nghệ số tích hợp nhiều tiện ích cho khách hàng sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, đó là ví điện tử, nổi bật trong số đó là ví điện tử MoMo với tổng số lượt cài đặt tích lũy hiện nay lên đến hơn 26 triệu lượt (App Annie, 2021). Ví điện tử MoMo xuất hiện lần đầu tiên trên thị trường Việt Nam vào tháng 10/2010 trong bối cảnh 80% dân số Việt Nam không có tài khoản ngân hàng, người dân không có nhiều cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ tài chính chuyên nghiệp như tiết kiệm, chuyển tiền, đầu tư. Tháng 6/2014, MoMo lần lượt xuất hiện trên kho ứng dụng dành cho điện thoại Android và iOS, trở thành ví điện tử đầu tiên dành cho thiết bị di động.
Năm 2017, MoMo đẩy mạnh kết hợp với các ngân hàng thương mại và các công ty tài chính để đưa vào ví MoMo các dịch vụ cho vay trả chậm. Hiện nay, ví điện tử MoMo đã xây dựng một hệ sinh thái đáp ứng hầu hết các nhu cầu thiết yếu của hơn 23 triệu khách hàng với hơn 20 ngàn đối tác kinh doanh (tính đến hết tháng 6/2021) trong các lĩnh vực như tài chính tiêu dùng, bảo hiểm, chuyển tiền, thanh toán, giải trí, thương mại điện tử, mua sắm, vận tải, dịch vụ ăn uống, quyên góp từ thiện… (Nguyễn Khánh Hà – 2021). Bên cạnh đó, ngành công nghệ tài chính của Việt Nam đứng thứ hai trong ASEAN về tốc độ tăng trưởng và dự kiến sẽ tăng gấp đôi giá trị. Song, mức độ thâm nhập điện thoại thông minh tại Việt Nam đã đạt được một chỉ số khá kinh ngạc với 53,8% (Nguyễn Văn Duy, 2020).
Mọi người sử dụng điện thoại di động ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu giải trí, mua sắm, thông tin. Theo Vũ Quỳnh Hương (2020), 1 “Ví điện tử” được coi là mới vì phần lớn các giao dịch ở Việt Nam vẫn sử dụng tiền mặt là chủ yếu. Như vậy, với tốc độ tăng trưởng của công nghệ tài chính và mức độ thâm nhập của điện thông minh một cách nhanh chóng như hiện nay, có thể thấy được tiềm năng để phát triển và mở rộng nhu cầu sử dụng ví điện tử MoMo trong thời đại công nghệ số 4. Chính vì vậy, việc có được một cái nhìn đầy đủ về những nhân tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử của khách hàng là điều rất cần thiết nhằm khám phá cũng như khẳng định được phần nào những nhân tố cơ bản.
Tuy nhiên, với sự khác nhau của mỗi quốc gia, mỗi vùng miền với những đặc điểm kinh tế văn hóa – xã hội và đặt biệt là yếu tố con người sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình cũng như kết quả nghiên cứu. Là thành phố đông dân nhất Việt Nam với lượng tiếp xúc với công nghệ lớn, thành phố Hồ Chí Minh luôn là thị phần mục tiêu của các ví điện tử nhắm đến nhiều nhất hiện nay, việc thu hút khách hàng sử dụng ví điện tử được coi như mục tiêu và là câu hỏi khó đối với các nhà quản trị. Trong thời kỳ xã hội chuyển sang trạng thái bình thường mới sau đại dịch Covid-19, việc thúc đẩy dùng ví điện tử thay thế cho thanh toán tiền mặt đang được phổ biến rộng khắp. Ví điện tử nhận được sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng vì tính năng tiện lợi, nhanh chóng của mình.
Theo Nguyễn Nhật Nam (2021), ngoài sự tiện lợi của mình, ví điện tử còn có nhiều chương trình ưu đãi, mã giảm giá cho khách hàng mới đăng ký sử dụng ví điện tử. Điều này có tác động tích cực đến việc tính hữu ích cảm nhận của người sử dụng, từ đó thúc đẩy ý định sử dụng của khách hàng. Khi đăng ký sử dụng bất kỳ ví điện tử nào thì người sử dụng thường được yêu cầu cung cấp CMND/CCCD và các thông tin cá nhân khác để xác thực tài khoản ví điện tử khiến nhiều người e ngại. Cảm giác bất an khi cung cấp thông tin cá nhân là hoàn toàn đúng bời đã xảy ra hàng loạt vụ rò rĩ thông tin cá nhân, thông tin cá nhân được mua bán trên mạng xã hội.
Cụ thể: tin tặc đã tấn công vào hệ thống máy chủ của Việt Nam Airline, đăng tải lên Internet 411.000 tài khoản khách hàng thành viên của chương trình Bông Sen Vàng (Nguyễn Phong Vân, 2017); Công ty VNG để lộ hơn 163 triệu tài khoản thông tin khách hàng (Nguyễn Hiếu, 2018) … Vì thế, vấn đề quyền bảo mật riêng tư luôn được khách hàng chú ý đến, đây có thể 2 được xem là nhân tố quan trọng trong việc tác động vào ý định sử dụng của khách hàng. 3 Dựa vào các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử, Chawla và Joshi (2019) đã chỉ ra rằng tính hữu ích cảm nhận có tác động trực tiếp đến ý định sử dụng của người tiêu dùng, ngoài ra bảo mật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lòng tin của khách hàng. Dựa trên kết quả nghiên cứu của Chawla và Joshi (2019), Tun (2020) đã tiến hành nghiên cứu tương tự và kết quả là có tính tương đồng với nghiên cứu trước. Kết quả đã nêu lên vai trò của yếu tố tin tưởng đối với ý định sử dụng ví điện tử.
Yếu tố này thể hiện sự tin tưởng của người dùng rằng quyền riêng tư của họ được đảm bảo và thông tin tài chính của họ sẽ được bảo mật. Không nghi ngờ gì nữa, quyền riêng tư bảo mật được coi là vai trò chính tác động đến ý định sử dụng ví điện tử. Ngoài ra, trong nghiên cứu của Tun (2020) còn chỉ ra rằng tính hữu ích cảm nhận là nhân tố quan trọng thứ hai tác động đến ý định sử dụng. Trong nghiên cứu của Karim và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng quyền riêng tư bảo mật là một trong những khía cạnh tiên quyết mà các nhà cung cấp ví điện tử nên nhấn mạnh để tạo ra ý định tích cực cho người tiêu dùng.
Dựa trên mô hình nghiên cứu đó, Ming và Jais (2022) đã khẳng định rằng tính hữu ích cảm nhận của ví điện tử là rất quan trọng để tăng cường thái độ tích cực của người sử dụng tiềm năng đến ý định sử dụng ví điện tử trong thời kỳ Covid-19. Hay nghiên cứu của Đỗ Ngọc Bích và Đỗ Thị Hải Ninh (2020) đã dẫn đến kết luận là nêu bật lên vai trò của tính hữu ích cảm nhận, đây được xem là yếu tố quyết định ý định sử dụng ví điện tử của Gen Z. Trái ngược với các kết quả nghiên cứu trước, Ahmad (2021) đã chỉ ra kết quả nghiên cứu của mình rằng tính hữu ích cảm nhận không ảnh hưởng đến ý định sử dụng ví điện tử. Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Sơn và cộng sự (2021) đã chỉ ra nhận thức riêng tư/bảo mật không có ý nghĩa thông kê và không được chấp nhận trong mô hình và chỉ ra rằng giới trẻ thường không quan tâm đến vấn đề bảo mật khi sử dụng ví điện tử.
Điều này chỉ ra một khoảng trống nghiên cứu rằng tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư có tác động đến ý định sử dụng ví điện tử hay không. Việc nghiên cứu tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư của Gen Z tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết để bổ sung vào khoảng trống 4 nghiên cứu. Ngoài ra, còn có sự khác biệt về kết quả tác động của tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư đến ý định sử dụng được chỉ ra trong các nghiên cứu liên quan 5 mà tác giả đề cập. Vì thế, đề tài nghiên cứu “Sự tác động của tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo của Gen Z trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” là chủ đề cấp thiết và được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp này.
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu xuất phát từ các nghiên cứu trước đây và hướng tới việc bổ sung vào các khoảng trống nghiên cứu về Tính hữu ích cảm nhận và Quyền bảo mật riêng tư tác động đến ý định sử dụng Ví điện tử MoMo của Gen Z. Để có thể thực hiện được mục tiêu tổng quát này, bài nghiên cứu sẽ được chi thành ba mục tiêu nghiên cứu, cụ thể: Thứ nhất, xác định được chiều hướng tác động của tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư đến ý định sử dụng Ví điện tử MoMo của Gen Z. Thứ hai, chỉ ra mức độ tác động của tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư đến ý định sử dụng Ví điện tử MoMo của Gen Z. Thứ ba, dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kiến nghị liên quan đến tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu sẽ được làm rõ qua các câu hỏi sau: Thứ nhất, Tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo của Gen Z theo chiều hướng nào? Thứ hai, Tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư tác động đến ý định sử dụng ví điện tử MoMo của Gen Z với mức độ là bao nhiêu? Thứ ba, Kiến nghị nào được đưa ra để nâng cao tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư? 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của Tính hữu ích cảm nhận và quyền bảo mật riêng tư của ví điện tử MoMo lên ý định sử dụng của Gen Z.