Nghiên cứu về thanh khoản và biến động giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích thanh khoản và biến động giá cổ phiếu ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Cần Thơ

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tác động của thanh khoản đến biến động giá cổ phiếu ngân hàng

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa thanh khoảnbiến động giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại niêm yết tại Việt Nam. Cổ phiếu ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán, ảnh hưởng đến giá trị vốn hóa và uy tín của ngân hàng. Theo các nghiên cứu trước đây, thanh khoản ngân hàng được xem là yếu tố quyết định đến biến động giá cổ phiếu. Việc kiểm soát tốt thanh khoản sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và ổn định giá cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, khi thanh khoản tăng, giá cổ phiếu có xu hướng ổn định hơn, ngược lại, khi thanh khoản giảm, giá cổ phiếu sẽ có sự biến động lớn hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc quản lý thanh khoản trong các ngân hàng thương mại.

1.1. Tình hình thanh khoản ngân hàng tại Việt Nam

Tình hình thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã có những biến động đáng kể trong những năm qua. Các yếu tố như chính sách tiền tệ, lãi suất ngân hàng, và tình hình kinh tế Việt Nam đã ảnh hưởng trực tiếp đến thanh khoản của các ngân hàng. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng thương mại niêm yết có sự chênh lệch lớn giữa các ngân hàng. Một số ngân hàng có thanh khoản cao, cho phép họ dễ dàng điều chỉnh giá cổ phiếu, trong khi những ngân hàng khác lại gặp khó khăn trong việc duy trì thanh khoản. Điều này dẫn đến sự biến động giá cổ phiếu không đồng đều giữa các ngân hàng, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư và quyết định đầu tư của họ.

1.2. Biến động giá cổ phiếu ngân hàng

Biến động giá cổ phiếu ngân hàng tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều giai đoạn tăng trưởng và suy giảm. Các yếu tố như tình hình kinh tế, chính sách tiền tệ, và các yếu tố bên ngoài như khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh mẽ đến giá cổ phiếu ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong những giai đoạn kinh tế khó khăn, giá cổ phiếu ngân hàng thường có xu hướng giảm mạnh, trong khi trong giai đoạn kinh tế phát triển, giá cổ phiếu có xu hướng tăng. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của biến động giá cổ phiếu ngân hàng đối với các yếu tố kinh tế vĩ mô. Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư hợp lý hơn.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản ngân hàng

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại, bao gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, mức độ tập trung cho vay, và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu cho thấy rằng, khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng, thanh khoản của ngân hàng cũng sẽ tăng theo. Ngược lại, khi mức độ tập trung cho vay cao, thanh khoản có thể bị ảnh hưởng tiêu cực. Hơn nữa, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng có tác động lớn đến thanh khoản ngân hàng. Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu vay vốn tăng, dẫn đến thanh khoản ngân hàng được cải thiện. Điều này cho thấy rằng, việc theo dõi và phân tích các yếu tố này là rất cần thiết để quản lý thanh khoản hiệu quả.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ thanh khoản và biến động giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 còn mô tả kết cấu các chương trong luận án và những đóng góp mới của luận án. 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ THANH KHOẢN NGÂN HÀNG VÀ BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU Chương 2 trước tiên trình bày lược khảo các nghiên cứu tiền nhiệm và các lý thuyết có liên quan nhằm củng cố thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của luận án, đồng thời có thêm nền tảng vững chắc cho các biện luận và phân tích trong kết quả nghiên cứu. Tiếp theo, chương này nêu rõ khe hở nghiên cứu, cơ sở lý thuyết lý giải cho các mô hình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thanh khoản NHTM và ảnh hưởng của thanh khoản ngân hàng đến biến động giá cổ phiếu các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam.1 Thanh khoản và đo lường thanh khoản ngân hàng 2.1 Thanh khoản ngân hàng Thanh khoản là khả năng của ngân hàng đáp ứng nghĩa vụ của mình và tài trợ cho sự gia tăng bất kỳ của tài sản mà không làm phát sinh tổn thất không thể chấp nhận (Theo Uỷ Ban Basel về giám sát ngân hàng, 2008). Thanh khoản của một ngân hàng thương mại là khả năng tài trợ cho tất cả các nghĩa vụ hợp đồng khi chúng đến hạn, có thể bao gồm các cam kết cho vay và đầu tư, rút tiền gửi và đáo hạn trách nhiệm, trong quá trình kinh doanh thông thường (Amengor, 2010).

Chức năng chủ yếu của NHTM là trung gian tài chính, ngân hàng thực hiện việc huy động tiền gửi và cho vay, tức là chuyển đổi tiền gửi các kỳ hạn thành tài sản. Trong quá trình đó, ngân hàng luôn đối mặt với khả năng thiếu hụt thanh khoản. Kết quả của sự thiếu hụt thanh khoản và có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng về khả năng thanh toán (Aspachs và cộng sự, 2005). Việc các NHTM không có thanh khoản có thể dẫn ngân hàng đến rủi ro thanh khoản (RRTK) (EL Khoury, 2015).

RRTK là tiềm năng mà một tổ chức không thể đáp ứng các nghĩa vụ của họ khi đến hạn (Decker, 2000). RRTK là rủi ro phát sinh khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng 11 nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân chủ quan khác làm mất khả năng thanh toán, kéo theo những hậu quả không mong muốn (Duttweiler, 2009). Qua các nhận định trên cho thấy thanh khoản là khả năng, là mức độ nhất định trong thực hiện các nghĩa vụ chi trả của ngân hàng mà chưa gây ra tổn thất. Trong khi đó, RRTK là rủi ro không còn khả năng thanh toán và gây tổn thất đáng kể.2 Đo lường thanh khoản ngân hàng Đến nay có nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước nghiên cứu về thanh khoản NHTM với nhiều phương pháp đo lường thanh khoản ngân hàng khác nhau.

Hầu hết các nghiên cứu đo lường thanh khoản dựa trên các chỉ số trên báo cáo tài chính, một số nghiên cứu khác đo lường thanh khoản theo yêu cầu của Basel III (2013). * Đo lường thanh khoản qua các chỉ số từ bảng cân đối kế toán Với chức năng chủ yếu là trung gian tài chính, các NHTM gặp vấn đề về thanh khoản chủ yếu là do mất cân đối về thời hạn giữa tài sản và nợ phải trả. Cho nên, việc đo lường thanh khoản được thực hiện bằng cách dựa trên một số tiêu chí về thuộc tài sản và nợ phải trả. * Đo lường thanh khoản theo quy định của Ủy ban Basel III Năm 2013, Ủy Ban Basel III đã hoàn thiện các hoàn thiện quy định trước đây, bằng cách quy định chặt chẽ yêu cầu thanh khoản theo thời hạn LCR và NSFR.

Trong đó, LCR là yêu cầu thanh khoản trong ngắn hạn và NSFR là yêu cầu thanh khoản trong dài hạn. Tỷ lệ thanh khoản bao phủ (LCR) với mục đích thúc đẩy khả năng phục hồi ngắn hạn thanh khoản của ngân hàng bằng cách đảm bảo ngân hàng có đủ tài sản thanh khoản có chất lượng cao để tồn tại trong tình trạng căng thẳng kéo dài trong một tháng. Tỷ lệ tài trợ ổn định ròng (NSFR) thúc đẩy khả năng phục hồi trong một khoảng thời gian dài hơn bằng cách tạo ra nhiều ưu đãi hơn cho các ngân hàng để tài trợ cho các hoạt động của họ với các nguồn tài trợ ổn định hơn. Tỷ lệ LCR và NSFR của Ủy Ban Basel III phù hợp để đo lường thanh khoản ngắn hạn và dài hạn, trong khi việc đo lường thanh khoản bằng các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán là đơn giản (Abdul-Rahman và cộng sự, 2018).

Thêm vào đó, đo lường thanh khoản bằng các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán là không bao quát để đo lường, điển hình như tỷ lệ cho vay trên tiền gửi không thể đánh giá thanh khoản của tổ chức tín dụng, bởi vì ngày nay hầu hết các ngân 12 hàng đều có hoạt động chứng khoán hóa, hơn nữa chỉ tiêu này chỉ tập trung vào 1 mục ở phía tài sản và 1 mục ở phí các khoản nợ của ngân hàng, chưa quan sát sự phù hợp về kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả (Bonfim và Kim, 2017).1 Đo lường thanh khoản ngân hàng Căn cứ Đo lường thanh khoản ngân hàng Nghiên cứu đã sử dụng đo lường Saunder và Cornett (2006) Shen và cộng sự (2009), (Cho vay - tiền gửi)/ tổng tài sản Đàng Hoang Vắng (2018), Trần Thị Thanh Nga và Trầm Thị Xuân Hương (2018). Moussa (2015), Wójcik- Cho vay/ tiền gửi Mazur và Szajt (2015), EL-Chaarani (2019) Cho vay/ tiền gửi và tài trợ ngắn hạn EL Khoury (2015), Vodová (2011) Bunda và Desquilbet (2008), Vodová (2011), Các chỉ Moussa (2015), EL số từ Cho vay/ tổng tài sản Khoury (2015), EL- bảng cân Chaarani (2019), Trần Thị đối kế Thanh Nga và Trầm Thị toán Xuân Hương (2018) Mazreku và công sự Tài sản ngắn hạn/ nợ ngắn hạn (2019) Bunda và Desquilbet Tài sản thanh khoản/ tiền gửi và tài (2008), Vodová (2011), trợ ngắn hạn Wójcik-Mazur và Szajt (2015) Moussa (2015), Phạm Tài sản thanh khoản/ tổng tài sản Quốc Việt (2019), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) Tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn/ Waemustafa và Sukri tổng tài sản (2016) Tiền mặt/ nợ ngắn hạn Aldeen và cộng sự (2020) Tỷ lệ bảo LCR = Tài sản có tính thanh khoản Cucinelli (2013); Chen và đảm cao/ dòng tiền ra ròng (t +30) ≥ 100 cộng sự (2015); Umar và thanh Sun (2016); Bonfim và khoản NSFR =Vốn ngắn hạn/Cho vay Kim (2017); Abdul- Basel III trung dài hạn ≥ 100 Rahman và cộng sự (2018) (2013) Nguồn: tổng hợp của tác giả 13 * Phương pháp đo lường thanh khoản trong luận án Saunders và Cornett (2006) đã sử dụng khe hở tài chính (Financing Gap - FGAP) để đo lường thanh khoản của ngân hàng. Tiếp theo đó, Shen và cộng sự (2009), Trần Thị Thanh Nga và Trầm Thị Xuân Hương (2018) cũng đã đo lường thanh khoản ngân hàng qua chỉ tiêu FGAP. FGAP = (Cho vay - tiền gửi)/ tổng tài sản Đo lường thanh khoản qua khe hở tài chính FGAP cũng là đo lường thanh khoản thông qua các chỉ số từ bảng cân đối kế toán.

Chỉ số FGAP cao thể hiện khe hở tài tài chính lớn, có nghĩa là khả năng thanh khoản của ngân hàng kém và ngược lại. Tuy nhiên, không giống như các biện pháp đo lường thanh khoản qua các chỉ số tài chính từ bảng cân đối kế toán khác chỉ sử dụng một chỉ số tài chính ở một phía của bảng cân đối kế toán (cho vay/ tổng tài sản, hoặc tài sản thanh khoản/ tiền gửi, v.), FGAP sử dụng hai chỉ số ở cả hai phía của bảng cân đối kế toán đó là tài sản và nguồn vốn do vậy phản ánh rõ hơn về sự chênh lệch về tài sản và nguồn vốn ở hai hoạt động cơ bản của NHTM huy động vốn và cho vay. Hơn nữa, phương pháp đo lường thanh khoản này phù hợp với đặc điểm thực trạng của các NHTM Việt Nam hiện nay, mặc dù các NHTM đã và đang tích cực đa dạng hóa các mặt hoạt động nghiệp vụ và đầu tư, huy động vốn và cho vay vẫn là hai hoạt động chủ yếu của các NHTM. Tuy có những ưu điểm nhất định, phương pháp đo lường thanh khoản qua chỉ tiêu FGAP cũng có một số nhược điểm so với phương pháp đo lường thông qua các tiêu chuẩn Basel III với 2 chỉ tiêu LCR và NSFR.

Hai chỉ tiêu LCR và NSFR phản ánh rõ yêu cầu thanh khoản trong ngắn hạn và cả yêu cầu thanh khoản trong dài hạn. Từ đặc điểm của các NHTM Việt Nam nói chung và các NHTMCP niêm yết nói riêng, vốn huy động từ nền kinh tế là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng, do vậy thu nhập lãi là thu nhập cơ bản. Thêm vào đó, trong cơ cấu cho vay, cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng cao trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn huy động ngắn hạn, do đó hoạt động tài trợ của các NHTM dễ dàng gặp phải sự chênh lệch về thời hạn. Theo Báo cáo số 38/BC- NHNN ngày 19/04/2018, cho vay trung và dài hạn đạt mức 40% trên tổng dư nợ.

Từ đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có nhiều văn bản chỉ đạo cập nhật, nhằm hạn chế mất cân đối về thời hạn giữa vốn huy động và cho vay. Thông tư 22 của Ngân hàng Nhà nước đã xác định lộ trình giảm dần tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn, cụ thể từ ngày 01/01/2020 - 30/9/2020 tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của các ngân 14 hàng vẫn được giữ nguyên mức hiện nay là 40%; từ 01/10/2020 - 30/9/2021 tỷ lệ này giảm xuống 37%; 01/10/2021 - 30/9/2022 là 34%; từ 01/10/2022 là 30%. Như vậy, đến nay tỷ lệ được phép sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn vẫn còn cao (30%), thêm vào đó cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu cho vay, cho nên chênh lệch về thời hạn là nhân tố chủ yếu làm phát sinh khe hở tài chính, đó cũng là nhân tố cơ bản làm ảnh hưởng khả năng thanh khoản các NHTM Việt Nam. Với đặc điểm về đối tượng nghiên cứu, không gian nghiên cứu và đặc điểm của bộ dữ liệu, luận án đo lường thanh khoản ngân hàng thông qua chỉ số khe hở tài chính FGAP theo hướng tiếp cận Saunders và Cornett (2006) và một số nghiên cứu tiếp sau đó.2 Biến động giá cổ phiếu và đo lường biến động giá cổ phiếu 2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của thanh khoản đến biến động giá cổ phiếu ngân hàng tại Việt Nam" phân tích mối quan hệ giữa thanh khoản và sự biến động giá cổ phiếu trong ngành ngân hàng. Tác giả chỉ ra rằng thanh khoản không chỉ ảnh hưởng đến giá cổ phiếu mà còn phản ánh tình hình tài chính và sự ổn định của các ngân hàng. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các yếu tố thanh khoản có thể tác động đến quyết định đầu tư và chiến lược quản lý rủi ro của các nhà đầu tư.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tài chính và kinh tế tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh nghiên cứu vận dụng mô hình cảnh báo sớm trong cảnh báo khủng hoảng tiền tệ tại việt nam, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các mô hình cảnh báo khủng hoảng tài chính. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ ảnh hưởng tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát và hoạt động can thiệp trung hòa của ngân hàng nhà nước việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của dự trữ ngoại hối trong nền kinh tế. Cuối cùng, bài viết Luận văn tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế tại việt nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa nợ công và sự phát triển kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường tài chính và kinh tế Việt Nam.