chương 1 tác giả đã trình bày những nội dung tổng quát nhất liên quan đến nghiên cứu này. Trước tiên, tác giả trình bày về tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Bên cạnh đó, trong chương này tác giả cũng đã trình bày phần mục đích nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Để thực hiện mục đích nghiên cứu của mình, trong chương này tác giả ứng dụng những phương pháp nghiên cứu cần thiết phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Từ những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra những đóng góp của đề tài về lý luận khoa học và nhận thức thực tiễn. Phần cuối cùng của chương, tác giả cho thấy bức tranh tổng quát về nội dung của đề tài được nghiên cứu trong luận văn này. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Lý thuyết về thị trường vốn Thị trường vốn được định nghĩa là thị trường nơi mà nguồn tài chính trung và dài hạn có thể được gia tăng1 (Akingbohungbe, 1996). Theo Al-Faki (2006), thị trường vốn là một mạng lưới của các tổ chức tài chính, các nhà máy, cơ sở hạ tầng, bằng nhiều cách khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên kết các nhà cung cấp vốn và người sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn lại với nhau nhằm mục đích đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế.
Thị trường vốn được xác định là một tổ chức góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của các nước mới nổi và đang phát triển. Điều này có thể được thực hiện thông qua vai trò quan trọng của các định chế trung gian trong nền kinh tế. Osaze (2000) cho thấy thị trường vốn gần như là quyết định tất cả cho bất kỳ nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nào bởi vì nó là điều cần thiết cho quá trình tăng trưởng vốn dài hạn. Thị trường vốn cung cấp chất bôi trơn để chuyển dịch nền kinh tế.
Nó cung cấp kinh phí cho các dự án có lợi nhuận tốt nhất cho chủ đầu tư. Đồng thời cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định tăng trưởng chung của nền kinh tế. Các chức năng của thị trường vốn ảnh hưởng đến thanh khoản, thu thập thông tin về các công ty, phân tán rủi ro, huy động tiết kiệm và kiểm soát doanh nghiệp (Anyanwu, 1998). Vì vậy, bằng cách thay đổi chất lượng của các dịch vụ, hoạt động của thị trường chứng khoán có thể thay đổi tỷ lệ hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (Equakun, 2005).
Okereke-Onyuike (2000) thừa nhận rằng các nguồn vốn giá rẻ từ việc duy trì nguồn vốn là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Tác giả liệt kê 1 Akingbohungbe, S. The role of the financial sector in the development of the Nigerian economy. Paper presented at a workshop organized by Center for African Law and Development Studies.
8 những lợi thế của thị trường vốn không bao gồm các quỹ mà thời gian trả nợ ngắn. Những lợi thế này chỉ được sử dụng cho các quỹ có thời gian trung và dài hạn, các quỹ của Nhà nước và địa phương mà không có áp lực nhiều về thời gian để hoàn trả vốn vay.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế cho thấy rằng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này. Sau đây tác giả trình bày một số khái niệm tiêu biểu về tăng trưởng kinh tế: Godwin (2007) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định. Trong đó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc dân (GNP) được điều chỉnh theo lạm phát.
Samuelson và cộng sự (2001) phát biểu rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng GDP tiềm năng hoặc sản lượng của một quốc gia. Nghĩa là tăng trưởng kinh tế chỉ xảy ra khi ranh giới khả năng sản xuất của một quốc gia vượt ra khỏi lãnh thổ của một nước. Trong đó, GDP và GNP được điều chỉnh thích hợp để làm giảm các ảnh hưởng về lạm phát. Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra bởi một nền kinh tế.
Cụ thể là nó được đo lường bằng sự gia 9 tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay tổng sản phẩm quốc gia (GNP) trong một thời gian nhất định.2 Các mô hình tăng trưởng kinh tế Mô hình tăng trưởng kinh tế là một trong những cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về tăng trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng. Ngay từ khi mới ra đời, các mô hình tăng trưởng kinh tế đã trở thành công cụ hữu ích, giúp các nhà kinh tế mô tả và lượng hoá tăng trưởng của nền kinh tế một cách rõ ràng hơn, cụ thể hơn. Cho đến nay, cùng với sự phát triển của lịch sử kinh tế học, các mô hình tăng trưởng đã chiếm một vị trí quan trọng trong các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn về tăng trưởng kinh tế ở mỗi quốc gia. Theo dòng thời gian, các lý thuyết và mô hình tăng trưởng được sắp xếp thành: (1) Lý thuyết tăng trưởng cổ điển (thế kỷ XVIII), (2) Lý thuyết tăng trưởng của Karl Marx (thế kỷ XIX), (3) Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes (đầu thế kỷ XX), (4) Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển (giữa thế kỷ XX), và (5) Mô hình tăng trưởng nội sinh (cuối thế kỷ XX).
Trong phần này tác giả chỉ trình bày bốn mô hình được quan tâm phổ biến nhất hiện nay.1 Lý thuyết tăng trưởng cổ điển Lý thuyết này được hình thành từ các nhà kinh tế tiêu biểu như: Adam Smith, R.Malthus, David Ricardo. Adam Smith cho rằng tích lũy vốn và tiến bộ công nghệ cùng các nhân tố xã hội, thể chế đều đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia. Tăng sản lượng đầu ra thông qua việc tăng số lượng đầu vào tương ứng. Tuy nhiên, vì đất đai là có hạn nên đến một lúc nào đó sản lượng đầu ra sẽ tăng chậm dần.
Malthus thì cho rằng dân số tăng theo cấp số nhân, còn sản lượng tăng theo cấp số cộng do bị hạn chế bởi tài nguyên thiên nhiên. Nếu muốn duy trì tăng sản lượng thì phải giảm mức tăng dân số. Vì dân số tiếp tục tăng sẽ đẩy nền kinh tế đến một điểm mà ở đó người lao động chỉ còn sống ở mức tối thiểu. David Ricardo với luận điểm cơ bản là đất đai là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế.
Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm cao, giá bán hàng hóa tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của chủ đất ngày càng giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư nên dẫn đến tăng trưởng giảm. Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng2. Tóm lại, các nhà kinh tế Adam Smith, R.Malthus và David Ricardo đều nhấn mạnh đến vai trò của nguồn lực tự nhiên trong tăng trưởng kinh tế.2 Mô hình tăng trưởng trường phái Keynes Mô hình Keynes được phát hiện ra bởi nhà kinh tế học John Maynard Keynes.
Tác phẩm nổi tiếng của ông là: Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ. Theo ông, Sản lượng nền kinh tế là do lượng cầu quyết định, do đó muốn tăng lượng cầu thì phải gia tăng đầu tư. Ông đã nghiên cứu mối quan hệ giữa gia tăng sản lượng quốc gia và gia tăng đầu tư thông qua mô hình số nhân như sau: ∆Y k ∆I Suy ra : 0 Y= k. 0 I Trong đó: 2 Xem thêm: David Ricardo “ Principles of Political Economy and Taxation” 11 Y là thay đổi của sản lượng k là số nhân I là thay đổi của đầu tư Ông cũng cho rằng thu nhập được chia thành tiêu dùng và tiết kiệm, đồng thời thu nhập cũng có thể chia thành tiêu dùng và đầu tư.
Từ đó ông cho rằng Tiết kiệm (S) = Đầu tư (I). Dựa trên phương pháp luận của Keynes, hai nhà kinh tế học Roy. Harrod (1939) và Evsey Domar (1946) đã đưa mô hình tăng trưởng kinh tế như sau: St = It (Tiết kiệm luôn bằng đầu tư) It = 0K (Đầu tư năm t bằng vốn hiện vật gia tăng trong năm t) Tốc độ tăng trưởng: ∆ ∆ g= = = : ∆ Vì St = It nên It/Yt = St/Yt Nếu gọi: St/Yt = s là tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế, thì It/0Y = 0K/0Y = k tỷ số gia tăng giữa vốn đầu ra (hệ số ICOR – Incremental capital output ratio) Ta sẽ có g = s/k Hệ số ICOR cho biết để tăng thêm 1 đồng sản lượng thì cần đầu tư thêm bao nhiêu đồng vốn. 12 Tóm lại, Lý thuyết trường phái Keynes nhấn mạnh đến vai trò của tư bản/vốn (K) đối với tăng trưởng kinh tế.3 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình thuyết minh về cơ chế tăng trưởng kinh tế do Robert Solow3 và Trevor Swan xây dựng nên.
Ông cho rằng có nhiều vấn đề phát sinh từ hàm sản xuất trong mô hình Harrod Domar. Theo ông thì bỏ hàm sản xuất có hệ số cố định và thay nó bằng hàm sản xuất tân cổ điển, hàm này có tính linh hoạt hơn và có sự thay đổi giữa các yếu tố sản xuất. Trong mô hình Solow, các tỷ số vốn - sản lượng; vốn - lao động không còn cố định nữa mà thay đổi tùy theo nguồn vốn và lao động trong nền kinh tế. Hàm sản xuất tân cổ điển có dạng như sau: Y = f (K,L) Giả sử hiệu suất của nền kinh tế không thay đổi theo quy mô thì: Y.
) hay Y/L = f (K/L) Trong đó y = Y/L là sản lượng bình quân cho một lao động k = K/L là vốn bình quân cho một lao động Mối quan hệ giữa y và k được biểu diễn qua đồ thị: 3 Robert Solow nhận được giải Nobel kinh tế năm 1987 13 Đồ thị 2.1: Mối quan hệ giữa sản lượng và vốn Hàm sản xuất dốc lên từ trái sang phải có nghĩa là y và k có mối quan hệ đồng biến. Bên cạnh đó, độ dốc của hàm sản xuất giảm dần có nghĩa là k tăng thì y tăng nhưng tốc độ tăng chậm dần và đến một lúc nào đó k tăng y sẽ không tăng nữa.