Luận án tiến sĩ dinh dưỡng hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3 5 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Chuyên khảo Tác động của lactobacillus casei shirota đến dinh dưỡng và sức khỏe hô phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Dinh Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sỹ

2022

201
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

2.2.3. Các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá

2.2.5. Tổ chức triển khai

2.2.6. Sản phẩm sử dụng trong nghiên cứu

2.2.7. Xử lý và phân tích số liệu

2.2.8. Các biện pháp khống chế sai số

2.2.9. Khía cạnh đạo đức nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình trạng dinh dưỡng, tình trạng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa

3.2. Hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới tích lũy táo bón, tiêu chảy và bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa

3.3. Đánh giá hiệu quả Lactobacillus casei Shirota lên cải thiện tình trạng táo bón, dinh dưỡng ở trẻ từ 3-5 tuổi bị mắc táo bón chức năng tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa

4. KẾT LUẬN

5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của Lactobacillus casei Shirota đến sức khỏe trẻ em

Lactobacillus casei Shirota (LcS) là một chủng vi khuẩn có lợi, được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực dinh dưỡng và sức khỏe. Nghiên cứu cho thấy LcS có khả năng cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ từ 3-5 tuổi. Tại Thanh Hóa, việc sử dụng LcS đã được chứng minh là có tác động tích cực đến sức khỏe của trẻ, giúp giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp và cải thiện tình trạng dinh dưỡng.

1.1. Lactobacillus casei Shirota và vai trò của probiotics trong dinh dưỡng

Probiotics, đặc biệt là Lactobacillus casei Shirota, đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sức khỏe đường ruột và tăng cường hệ miễn dịch. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bổ sung probiotics giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, từ đó nâng cao khả năng hấp thu dinh dưỡng và giảm nguy cơ mắc bệnh.

1.2. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại Thanh Hóa

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em tại Thanh Hóa đang gặp nhiều thách thức. Theo thống kê, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao, với nhiều trẻ bị thiếu hụt vi chất dinh dưỡng. Việc áp dụng Lactobacillus casei Shirota có thể là một giải pháp hiệu quả để cải thiện tình trạng này.

II. Vấn đề sức khỏe hô hấp ở trẻ 3 5 tuổi tại Thanh Hóa

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Tại Thanh Hóa, tỷ lệ mắc bệnh này cao, gây ra gánh nặng cho gia đình và xã hội. Việc tìm kiếm các giải pháp can thiệp hiệu quả là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng này.

2.1. Nguyên nhân và tác động của nhiễm khuẩn hô hấp cấp

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp thường xảy ra do nhiều nguyên nhân, bao gồm virus, vi khuẩn và môi trường sống không đảm bảo. Trẻ em có hệ miễn dịch yếu thường dễ mắc bệnh hơn, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời.

2.2. Tác động của dinh dưỡng đến sức khỏe hô hấp

Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe hô hấp. Trẻ em được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng sẽ có khả năng chống lại bệnh tật tốt hơn. Việc bổ sung Lactobacillus casei Shirota có thể giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp cho trẻ.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota

Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa với mục tiêu đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota đối với tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp của trẻ 3-5 tuổi. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập số liệu, phân tích và đánh giá kết quả sau can thiệp.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp ngẫu nhiên, với sự tham gia của trẻ em từ 3-5 tuổi tại 4 xã. Các chỉ số dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp được theo dõi và đánh giá trước và sau can thiệp.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

Số liệu được thu thập thông qua bảng hỏi và kiểm tra sức khỏe. Phân tích số liệu được thực hiện bằng các phương pháp thống kê để đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota đối với tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp.

IV. Kết quả nghiên cứu về Lactobacillus casei Shirota

Kết quả nghiên cứu cho thấy Lactobacillus casei Shirota có tác động tích cực đến tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp của trẻ em. Tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp giảm đáng kể sau khi bổ sung LcS, đồng thời tình trạng dinh dưỡng cũng được cải thiện rõ rệt.

4.1. Tác động đến tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp

Sau 12 tuần can thiệp, tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở nhóm trẻ sử dụng Lactobacillus casei Shirota giảm đáng kể so với nhóm chứng. Điều này cho thấy LcS có khả năng tăng cường hệ miễn dịch và bảo vệ trẻ khỏi các bệnh nhiễm khuẩn.

4.2. Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Nghiên cứu cũng cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ được cải thiện rõ rệt. Các chỉ số cân nặng và chiều cao của trẻ tăng lên sau khi bổ sung Lactobacillus casei Shirota, cho thấy sự cải thiện trong việc hấp thu dinh dưỡng.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của Lactobacillus casei Shirota

Lactobacillus casei Shirota đã chứng minh được hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp ở trẻ em. Việc áp dụng LcS trong chế độ ăn uống của trẻ có thể là một giải pháp hiệu quả để giảm thiểu các vấn đề sức khỏe hiện nay.

5.1. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu và ứng dụng probiotics

Nghiên cứu và ứng dụng probiotics như Lactobacillus casei Shirota là cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng. Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để xác định liều lượng và thời gian sử dụng tối ưu.

5.2. Hướng đi tương lai cho sức khỏe trẻ em

Việc kết hợp Lactobacillus casei Shirota vào chế độ dinh dưỡng của trẻ em có thể mở ra hướng đi mới trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh lý liên quan đến dinh dưỡng và sức khỏe hô hấp. Cần có thêm các chương trình giáo dục dinh dưỡng cho phụ huynh để nâng cao nhận thức về lợi ích của probiotics.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ dinh dưỡng hiệu quả của lactobacillus casei shirota lên tình trạng dinh dưỡng tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3 5 tuổi tại 4 xã tỉnh thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng bệnh lý xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng, thường kèm theo tác động của nhiễm khuẩn và ngược lại thường tạo điều kiện cho nhiễm khuẩn phát triển và làm cho tình trạng thiếu dinh dưỡng càng nặng thêm. SDD là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu, chủ yếu xảy ra ở châu Phi và châu Á. SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi không những làm trẻ chậm phát triển thể chất, trí tuệ mà còn làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC), tiêu chảy và dẫn đến tử vong [1],[2]. Theo ước tính có khoảng 45% số ca tử vong trên toàn cầu ở trẻ em dưới 5 tuổi là do SDD [3].

Ở nước ta trong những năm qua, mặc dù đã có nhiều thành tựu trong công tác phòng chống SDD, nhưng tỷ lệ SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn ở mức cao, đặc biệt là SDD thể thấp còi là 23,2%, thể nhẹ cân là 12,8% (năm 2018) [4]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, chiếm 15-16% tỷ lệ tử vong dưới 5 tuổi [5] và cũng là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển ở trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi [6]. Tại Việt Nam, NKHHC cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em, chiếm 44% trong số các bệnh gây tử vong cho trẻ ở độ tuổi này [7]. NKHHC có tỷ lệ mắc cao và tái diễn nhiều lần trong năm, gây tốn kém về chi phí điều trị và thời gian chăm sóc trẻ của các bà mẹ, là gánh nặng đối với ngành y tế [8].

NKHHC có liên quan đến các yếu tố nguy cơ khác nhau bao gồm các yếu tố: dinh dưỡng, nhân khẩu học, môi trường và kinh tế xã hội [9],[10]. Nếu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được thông qua việc thực hiện các chiến lược can thiệp khác nhau thì gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng có thể được giảm bớt. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới ở trẻ em. Mỗi ngày trên toàn cầu có 1400 trẻ em dưới 5 tuổi tử 16 vong do tiêu chảy [11].

Suy dinh dưỡng (SDD) và tiêu chảy tạo thành một vòng xoắn bệnh lý, tiêu chảy dẫn đến suy dinh dưỡng và suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ mắc tiêu chảy, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của trẻ. Farzana F và cs (2013) nghiên cứu trên 2324 trẻ dưới 5 tuổi tại Bangladesh bị tiêu chảy cho thấy trẻ tiêu chảy có mức độ vừa và nặng có xu hướng bị suy dinh dưỡng nhiều hơn so với trẻ tiêu chảy nhẹ [12]. Mối liên quan giữa tiêu chảy và suy dinh dưỡng là gánh nặng về kinh tế đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Táo bón là một tình trạng rối loạn tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

Đây là vấn đề sức khoẻ cộng đồng ngày càng tăng trên toàn thế giới. Táo bón kéo dài nếu không được chăm sóc dinh dưỡng, điều trị và theo dõi hợp lý có thể dẫn đến các biến chứng gây ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tâm lý cho trẻ, tác động đáng kể đến y tế, xã hội, kinh tế, thậm chí có thể gây viêm đường tiêu hóa [14], làm cho trẻ biếng ăn, ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể. Nguyên nhân gây táo bón rất đa dạng nhưng chủ yếu táo bón do nguyên nhân chức năng chiếm 90 - 95 % [15]. Tỷ lệ mắc táo bón chức năng ở trẻ em dao động từ 0,7% - 29 % ở cả các nước phát triển và đang phát triển với các yếu tố nguy cơ như căng thẳng tâm lý, thói quen ăn uống [16].

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc táo bón ở trẻ 36-48 tháng tuổi là 54,9% (năm 2009) [17], 92,5 % trẻ mắc bệnh táo bón chức tại phòng khám tại bệnh viện Nhi Trung Ương (năm 2013) [18]. Một trong những phương pháp hỗ trợ điều trị táo bón an toàn và mang lại hiệu quả kéo dài là sử dụng probiotic. “Probiotic” là những vi khuẩn sống, khi sử dụng với một số lượng thích hợp sẽ có lợi cho sức khỏe con người. Probiotic được chứng minh có vai trò quan trọng trong giảm các triệu chứng bệnh táo bón [19],[20].

17 Lactobacillus casei Shirota (LcS) là một chủng vi khuẩn có lợi được nghiên cứu và được sử dụng tại Nhật Bản từ năm 1935. LcS đã được nghiên cứu về hiệu quả liên quan đến miễn dịch [21],[22] trong phòng và điều trị nhiễm khuẩn hô hấp cấp [23],[24], trong sự tăng trưởng của trẻ [25], phòng và điều trị tiêu chảy [26], [27], phòng và điều trị táo bón trên các đối tượng khác nhau [28],[19]. Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của Lactobacilluss casei Shirota đến tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và NKHHC ở trẻ 3-5 tuổi, bổ sung Lactobacilluss casei Shirota thì hiệu quả lên tỷ lệ mắc mới tích lũy táo bón, tiêu chảy, NKHHC như thế nào và có cải thiện tình trạng táo bón, dinh dưỡng ở những trẻ táo bón chức năng hay không. Đây là những câu hỏi rất cần lời giải đáp.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với 3 mục tiêu: 1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng, tiêu hóa và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa, năm 2017. Đánh giá hiệu quả của Lactobacillus casei Shirota lên tỷ lệ mắc mới về táo bón, tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ 3-5 tuổi tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá hiệu quả Lactobacillus casei Shirota lên cải thiện táo bón, tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 3-5 tuổi bị mắc táo bón chức năng tại 4 xã tỉnh Thanh Hóa.

Tình trạng dinh dưỡng trẻ em 1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá, sinh lý trong quá trình chuyển hoá.

Việc sử dụng thực phẩm phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ. Khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai. Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề về dinh dưỡng.

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của một cộng đồng. Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó, và có thể sử dụng để so sánh với số liệu của quốc gia hoặc các cộng đồng khác. Theo tổ chức Y tế Thế giới, các số đo nhân trắc (cân nặng, chiều cao) quan trọng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em và khuyến cáo 3 chỉ tiêu nên dùng là: cân 19 nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng/chiều cao (CN/CC) [29],[30]. Suy dinh dưỡng trẻ em Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng.

Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ. SDD năng lượng protein thường kèm theo các bệnh nhiễm khuẩn [31]. Nguyên nhân suy dinh dưỡng trẻ em Năm 1998, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã phát triển mô hình nguyên nhân SDD [32]. Một số tổ chức và quốc gia khác nhau cũng đã có những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF.

Nhưng hiện tại, mô hình nguyên nhân hậu quả SDD của UNICEF là mô hình được sử dụng rộng rãi nhất. Mô hình này cho thấy nguyên nhân của SDD rất đa dạng, liên quan chặt chẽ với các vấn đề y tế, lương thực thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình này chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau. Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD được cho là do bị thiếu ăn, ăn uống không hợp lý và bệnh tật [32].

Ăn uống, sữa mẹ và thức ăn bổ sung đóng vai trò quan trọng đối với thời điểm mắc và thể loại SDD. Những quan niệm sai lầm của người mẹ hoặc gia đình trong chăm sóc dinh dưỡng, thai sản, trong nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đều là những nguyên nhân trực tiếp. Trẻ không được bú sữa mẹ, hoặc bú chai nhưng số lượng sữa không đủ, dụng cụ không đảm bảo vệ sinh đều có thể dẫn đến SDD. Khi cho ăn bổ sung muộn, hoặc cho ăn bổ sung quá sớm, hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng không đủ và năng lượng, protein thấp cũng dễ dẫn tới SDD.

Các bệnh nhiễm khuẩn (gồm nhiễm vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng) đều có thể dẫn đến SDD và ngược lại, SDD khiến trẻ dễ mắc các 20 bệnh nhiễm khuẩn và vòng xoắn bệnh lý này cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp. Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng rất trầm trọng đến tình trạng dinh dưỡng của đứa trẻ. Nhiễm khuẩn dẫn đến các tổn thương đường tiêu hóa, do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dinh dưỡng, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn. Nhiễm khuẩn làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng.

Nguyên nhân tiềm tàng/quan trọng của SDD là dịch vụ chăm sóc y tế và vệ sinh môi trường yếu kém, dịch vụ chăm sóc bà mẹ và trẻ em chưa thỏa đáng. Các bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh được xếp vào nhóm nguyên nhân này. Mô hình nguyên nhân SDD trẻ em [32] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ