CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tác động của FTA đến thương mại quốc tế Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tích cực đàm phán và ký kết các FTA thế hệ mới, ngoài các FTA "truyền thống". FTA thế hệ mới có tác động lớn đến kinh tế Việt Nam (Trần Thị Trang (2019) và Phan Linh (2021)).
Các quốc gia thành viên của các FTA thế hệ mới sẽ nhận được nhiều lợi ích từ các thỏa thuận thương mại tự do, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu. Các FTA thế hệ mới có hiệu lực sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh và thúc đây tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu với các cam kết cắt giảm thuế quan mạnh mẽ. Dent (2006) đã đưa ra một lập luận thuyết phục về tác động của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) đối với các tổ chức khu vực, nhắn mạnh rằng chúng có thể làm xói mòn sự gắn kết và tính bền vững của các tổ chức khu vực hiện có. Quan điểm của tác giả làm sáng tỏ những lực lượng cạnh tranh đáng kể mà các FTA có thé tạo ra giữa các quốc gia, có khả năng làm gia tăng chênh lệch về quyền lực và làm trầm trọng thêm sự chênh lệch về phát triển trong khu vực.
Tuy nhiên, điều cần thiết là phải nhận ra rằng, bên cạnh những thách thức đặt ra, các FTA thế hệ tiếp theo này cũng mang đến nhiều cơ hội. Cụ thể, họ trao quyền cho các quốc gia tham gia thực hiện quyền kiểm soát tốt hơn đối với trạng thái cân bằng kinh tế vĩ mô của họ, tạo điều kiện đây nhanh các cải cách kinh tế và xã hội nhằm nâng cấp nền kinh tế của họ. FTA có thé thúc day đầu tư trực tiếp nước ngoài và thúc day kinh tế. Hơn nữa, các FTA đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích phân bồ nguồn lực cho các ngành công nghiệp mới, có giá trị gia tăng, cuối cùng là tối ưu hóa chuỗi giá trị trong các lĩnh vực quan trọng của một quốc gia dé đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Về bản chất, các FTA có hai đặc điểm: chúng đặt ra những thách thức và mở ra những cơ hội cho các quốc gia.
Do đó, phân tích của tác giả nhấn mạnh đặc điểm này.tham gia vào các cam kết này. ICDT (2015) với nghiên cứu “Study on the New Generation of Free Trade Agreements and Their Impact on Intra-OIC Trade” khang dinh FTA thé hệ mới được coi là để giải quyết những thiếu sót của các FTA “truyền thống”, chúng vượt ra ngoài thương mại để giải quyết các lĩnh vực phi thương mại như nhân quyền, tự do, môi trường, chống đói nghèo, chống tham nhũng,. Bài viết “Structure of the Euro Area Economy” của Ngân hàng Trung ương châu Âu năm 2019 cho thấy tỷ trọng của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong EU, giúp tác giả minh họa rõ ràng sự khác biệt trong cấu trúc kinh tế giữa Việt Nam và EU. Ngoài ra, các khái niệm, công thức và tầm quan trọng của các chỉ số như Lợi thế so sánh được bộc lộ (RCA) và giá tri gia tăng trong quan hệ thương mai đã được trình bày trong bài bao "Trade Indicators" của Giải pháp Thuong mại Tích hợp Thế giới (WIST) dé đánh giá tác động của hiệp định EVFTA tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong Chương 3, tác giả sử dụng thông tin này đề tính toán RCA của Việt Nam và EU cũng như tăng giá trị của quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU.
Dé nâng cao phần mô hình hấp dẫn của nghiên cứu nay, tác giả đã tham khảo nhiều nguồn khác nhau, bao gồm "The Gravity Equation in International Trade: An Explanation" của Thomas Chaney, bài báo trực tuyến Kinh tế "Gravity Theory of Trade" dành cho sinh viên kinh tế, va Luca De Benedictis và "The Gravity Model in International Trade" của Daria Taglioni từ năm 2011. Những bài viết nay cung cấp nền tảng lý thuyết và các phương trình cơ bản, đồng thời là những bài đầu tiên phân tích hoạt động thương mại giữa các quốc gia bằng cách sử dụng mô hình trọng lực. Ngoài ra, để có được di liệu và cơ sở dữ liệu cho mô hình, tác giả đã phải sử dụng nhiều website nước ngoài như Trade Map về dữ liệu xuất nhập khẩu thủy sản giữa Việt Nam và 27 nước EU, Kinh tế thương mại cho EU và GDP của 27 nước thành viên EU, World Giải pháp Thương mại Tích hợp (WITS) dé cung cấp thông tin về thuế hải quan đo các nước EU áp đặt đối với các sản phẩm thủy sản của Việt Nam, GDP bình quân đầu người và tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Thế giới và The Time Now về khoảng cách giữa Việt Nam và các nước EU. Các tài liệu và website nghiên cứu này đã hỗ trợ tác giả hoàn thiện phần phân tích định lượng của mô hình hấp dẫn đã trình bày ở Chương 3 của nghiên cứu.
Tác động của Hiệp định EVFTA tới ngành thủy sản Lê Thị Việt Nga (2021) trong nghiên cứu “Tác động của các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tế đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU” đã chỉ ra rằng có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm giá trị xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU trong những năm gần đây, trong đó có nguyên nhân từ các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ. Đề đánh giá tác động của các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, bài viết này sử dụng mô hình trọng lực với các số liệu cần thiết được thống kê bởi COMTRADE, WB và WTO từ năm 2000 đến năm 2019. Mục tiêu của bài viết Nghiên cứu cho thấy các biện pháp SPS của Liên minh Châu Âu thực sự cản trở xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, trong khi các biện pháp TBT không cản trở xuất khẩu. Le Thi Viet Nga, Vu Anh Tuan, Chu Tien Minh (2022) với “Vietnam š Seafood Export to the EU Market in the Context of the EVFTA Implementation” có nói Việt Nam có lợi thé trong hoạt động xuất khẩu thủy sản, đồng thời có nhiều cơ hội để thúc day xuất khẩu thủy sản vào thị trường Liên minh Châu Âu (EU) từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.
Theo nghiên cứu, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU giai đoạn 2010- 2021 có nhiều biến động. Kim ngạch xuất khẩu tôm và cá ngừ tăng lên trong khi kim ngạch xuất khẩu cá tra giảm liên tục. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đây xuất khẩu thủy sản trong bối cảnh thực thi Hiệp định EVFTA bằng cách phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU, đánh giá các cơ hội, thách thức và lợi thế của Việt Nam đối với thị trường này. Đào Quỳnh Trang (2017) trong “Anh hưởng của hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên mình Châu Au đến xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang Liên minh Châu Au” chỉ ra những cơ hội mà EVFTA mang lại cho ngành thủy sản Việt Nam, đặc biệt là ưu đãi thuế quan sẽ giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận vốn đầu tư và khoa học công nghệ hiện đại từ EU.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với một số thách thức. Chúng bao gồm các quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt, các quy định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và các biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) khắt khe và phức tạp, sức ép Tuy nhiên, các công ty Việt Nam sẽ có điều kiện tốt hơn để chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh vì lộ trình xóa thuế xuất khẩu của Việt Nam dài hơn EU (10 năm so với 7 năm của EU). Trần Thị Duyên (2018) đã tiến hành phân tích toàn diện, chỉ ra những điều kiện tiên quyết cần thiết đối với các doanh nghiệp thủy sản muốn xuất khẩu sản phẩm sang Liên minh châu Âu (EU). Tác giả nhấn mạnh, mặc dù thủy sản Việt Nam hiện đã có mặt tại hơn 145 quốc gia trên toàn cầu nhưng chìa khóa đề thâm nhập thị trường sâu hơn nằm ở việc tạo dựng thương hiệu riêng biệt cho thủy sản Việt Nam.
Những nỗ lực xây dựng thương hiệu như vậy sẽ không chỉ nâng cao vị thế toàn cầu của thủy sản Việt Nam mà còn mở ra tiềm năng của thủy sản trên trường thé giới. Dé thành công tại thị trường EU, các công ty Việt Nam phải đáp ứng ba bộ tiêu chí riêng biệt: yêu cầu bắt buộc, tiêu chuẩn chung và điều kiện tiên quyết của từng ngành cụ thé. Những hướng dẫn này đóng vai trò là tiêu chuẩn quan trọng đề đảm bảo tính tuân thủ và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường EU. Nguyễn Thu Hương (2006) đã làm sáng tỏ những thách thức và rào cản mà EU đặt ra đối với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Với bối cảnh cạnh tranh của EU, dân số đông đảo và các rào cản pháp lý nghiêm trọng, việc đạt được vị trí dẫn đầu trong chuỗi cung ứng thủy sản trong liên minh này không phải là một thành công nhỏ. Các quy định leo thang liên quan đến vệ sinh và kiểm soát chất lượng đặt ra những trở ngại lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, những người phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các quốc gia như Án Độ và Nhật Bản. Về bản chất, mặc dù thị trường EU có nhiều hứa hẹn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhưng thị trường này đòi hỏi nỗ lực phối hợp để định hướng và vượt qua mạng lưới phức tạp gồm các điều kiện tiên quyết và thách thức đang cản đường. Trần Văn Tuấn (2018) đã chỉ ra rằng việc ký kết Hiệp định EVFTA sẽ có những tác động cả tích cực và tiêu cực đối với xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU trong thời gian tới.
Các yếu tố như EVFTA, mối quan hệ ngoại giao lâu dài giữa Việt Nam và EU, lợi thế so sánh của Việt Nam đối với các mặt hàng thủy sản, tính bé sung trong cơ cấu thương mại giữa Việt Nam và EU, cắt giảm thuế quan, quy mô nền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia EU. Việc xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU cũng sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các biện pháp phòng vệ thương mại, rào cản kỹ thuật, vệ sinh địch tễ và quy mô dân số của Việt Nam. Do đó, cả chính phủ và doanh nghiệp đều cần có những chiến lược cụ thé dé giảm bớt những tác động tiêu cực cũng như những yếu kém còn lại trong xuất khâu hàng thủy sản của Việt Nam sang EU.