Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận về tác động của hiệp định thương mại tự do tới xuất khẩu hàng hóa Chương 2: Đánh giá tác động của hiệp định EVFTA tới xuất khâu nông sản của Việt Nam sang EU Chương 3: Giải phát nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU 14 CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIEU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÁC ĐỘNG CUA HIỆP ĐỊNH THUONG MẠI TU DO TỚI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu 1. Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong kinh tế đối ngoại, đây là một trong những động lực quan trọng để thúc đây kinh tế xã hội tăng trưởng và chuyên dịch cơ cấu kinh tế. Mặc dù xuất khẩu được thừa nhận trên thực tiễn nhưng hiện vẫn chưa có khái niệm thống nhất về nó.
Theo từ điển Kinh tế học hiện đại (nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1999) thì xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất tại một nước dé tiêu dùng ở một nước khác. Quan niệm xuất khâu xuất phát từ góc độ có phạm vi hẹp, giới hạn ở sự lưu chuyền hàng hóa dịch vụ qua biên giới nhưng chưa chỉ rõ được đặc điểm chủ thể trong quan hệ mua bán quốc tế nói chung và trong hoạt động xuất khâu nói riêng. Theo Luật thương mại năm 1998 và Nghị định số 57/1998/NĐ-CP đã quy định chỉ tiết về việc thi hành Luật thương mại về các hoạt động liên quan tới xuất nhập khâu, gia công và đại lý mua bán hàng hóa với các đối tác từ nước ngoài thì khái niệm nhập khẩu hàng hóa được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa của thương nhân người Việt Nam với thương nhân người nước ngoài dựa theo bản hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm cả các hoạt động xuất khẩu như: tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập vả chuyền khẩu hàng hóa. Còn theo điều 28, mục 1, chương 2 của Luật thương mại Việt Nam năm 2005 thì xuất khẩu hàng hóa ở đây được tiếp cận theo hướng là việc hàng hóa được ra khỏi lãnh thé của Việt Nam, hoặc là được đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam, được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Theo Luật Hải quan năm 2000, hàng hóa được coi là xuất khẩu sau khi đã hoàn tất các thủ tục hải quan tức là đã thông quan. Luật thương mại đã chỉ ra được chủ thể của hoạt động xuất khâu là thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài trong khi đó thì luật Hải quan mới dừng lại ở quan niệm xuất khẩu hàng hóa là hoạt động 15 lưu chuyên hàng hóa qua biên giới quốc gia. Như vậy thì quan niệm về xuất khẩu của Luật thương mại và luật Hải quan không có sự thống nhất, những hoạt động xuất khẩu hàng hóa tại chỗ diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân người nước ngoài theo Luật thương mại sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hải quan. Do đó, dé phuc vu cho muc dich thong ké thuong mai quéc tế, Hệ Thống Tài Khoản Quốc Gia (SNA) do Liên Hợp Quốc xây dựng và bảng cán cân thanh toán (BOP) do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thiết lập, đã tiếp cận xuất khẩu là việc người cư trú bán hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú tại một quốc gia nào đó.
Đối với cách tiếp cận này thì phạm vi ở đây được mở rộng hơn, bao gồm cả hoạt động xuất khẩu tại chỗ và hoạt động xuất khâu qua biên giới. Nói tóm lai, từ những khái niệm được đưa ra ở trên, có thé hiểu đơn giản rang: “xuất khâu là hoạt động mua bán hàng hóa dịch vụ giữa người cư trú và người không cư trú tại một quốc gia trong đó thì người cư trú sẽ là bên bán và người không cư trú sẽ là bên mua. Vai trò của xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Có thé nói rằng, đối với mỗi một quốc gia trên thế giới thì hoạt động xuất khẩu hàng hóa có những vai trò vô cùng quan trọng trong việc thiết lập và tạo ra rất nhiều tác động tích cực đối với nền kinh tế mỗi quốc gia đó. Do vậy, hoạt động xuất khẩu diễn ra với mục đích là liên kết hoạt sản sản xuất hàng hóa với hoạt động tiêu dùng của quốc gia này với quốc gia khác.
Chính vì thế mà xuất khâu đã mang lại một nguồn lợi rất to lớn đối với một quốc gia: Thứ nhất, xuất khẩu tạo ra nguon vốn cho nhập khẩu và phát triển sản xuất, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: Có thé nhận thay công nghiệp hóa đất nước là con đường tất yếu dé khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Do vậy thì dé thực hiện được quá trình này thì trước hết mỗi quốc gia cần phải tiến hành nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị hiện đại từ nước ngoài để về trang bị cho nên sản xuất nội địa. Các nguôn vôn lây đê nhập khâu của nước đó thì thường được dựa vào các nguôn đi vay, 16 viện trợ, đầu tư nước ngoài và xuất khẩu là chủ yếu. Do vậy dé dàng nhận thấy thi nguồn vốn quan trọng nhất dé nhập khẩu hàng hóa của một quốc quốc gia chính là từ hoạt động xuất khẩu.
Trên thực tế là việc gia tăng xuất khẩu và nhập khẩu của mỗi quốc gia đều có mối quan hệ thuận. Theo đó mà khi xuất khâu gia tăng thì xu hướng về nhập khẩu cũng sẽ tăng lên và ngược lại. Thứ hai, xuất khẩu sẽ tao diéu kiện cho việc chuyển dịch cơ cầu của nên kinh tế cũng như thúc đẩy nhanh hơn vào quá trình sản xuất: Ngày nay thi đa số các quốc gia đều lay nhu cầu của thị trường thế giới dé làm thước đo cho quá trình sản xuất. Do xu hướng hội nhập toàn cầu, cũng như ảnh hưởng của các cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đã khiến cho cơ cấu trong sản xuất lẫn tiêu dùng của mỗi một quốc gia nói riêng và trên thé giới nói chung đã và đang có những biến đổi vô cùng rõ nét.
Chính vì vậy mà hoạt động xuất khâu sẽ tạo ra nhiều điều kiện dé cho các nhóm ngành có cơ hội phát triển thuận lợi hơn, giả dụ như nếu ngành chế biến phát triển sẽ kéo theo cả các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ ngành chế biến tăng theo. Từ đấy mà hình những cơ hội trong việc mở rộng thị trường tiêu thụ. Thứ ba, hoạt động xuất khẩu sẽ day nhanh quá trình cải tiễn máy móc, thiết bị, quy trình, công nghệ sản xuất: Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cau. Tại thị trường này tồn tại sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về giá cả, chất lượng.
Chính vì thế đòi hỏi bản thân mỗi quốc gia nói chung và các doanh nghiệp sản xuất nói riêng cần phải có những bước đi mới trong việc cải tiến thiết bị, máy móc. Ngoài ra, nâng cao chất lượng sản xuất cũng như các quy trình công nghệ. Thứ tư, xuất khẩu sẽ giải quyết tot vấn dé việc lam của người lao động: Hoạt động xuất khâu có nhiều tác động trên mọi mặt tới đời sống của người lao động. Cụ thê: thông qua hoạt động xuất khẩu đã tạo ra khối lượng công việc lớn từ đó thu hút nhiều lao động, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống nhân dân.
Bên cạnh đó, hoạt động xuất khâu cũng sẽ tạo ra một nguồn vốn vô cùng lớn dé phục vụ quá trình nhập khâu các mặt hàng thiết yếu. 17 Thứ năm, xuất khẩu chính là tiền dé, cơ sở dé mở rộng cũng như thúc day các quan hệ kinh té quốc tế: Khi mà hoạt động xuất khâu phát triển và được đây mạnh hơn sẽ tạo điều kiện trong việc gia tăng, thiết lập các mối quan hệ hữu nghị cũng như những sự hợp tác quốc tế với các nước khác trên thé giới, đồng thời từ đó có thé nâng cao địa vị mỗi quốc gia trên trường quốc tế. Nói tóm lại, có thé khang định răng hoạt động xuất khâu không những đóng vai trò là chất xúc tác trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mà nó còn kết hop cùng với hoạt động nhập khẩu sẽ là yếu tố bên trong dé trực tiếp tham gia vào các quá trình khác như: vấn đề việc làm; gia tăng vốn; chuyền giao công nghệ. Các hình thức xuất khẩu Xuất khâu hàng hóa là hoạt động kinh doanh buôn bán hàng hóa trên phạm vi toàn cầu, đây không chỉ dừng lại ở việc buôn bán riêng lẻ mà đó còn là cả một hệ thống hình thành lên các quan hệ mua-bán trong nền thương mại quốc tế với những mục đích cơ bản đó là bán hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong nước ra nước ngoai để thu về nguồn lớn ngoại tệ, đây mạnh sản xuất hàng hóa nội địa phát triển, chuyền đổi cơ cấu kinh tế, nâng cao mức sông của người dân.
Do đó, dé đáp ứng cũng như có thé tao ra nhiều lợi ích như vậy thì hoạt động xuất khẩu phải được tiến hành, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, bên dưới đây là một số hình thức chủ yếu: - Xuất khẩu trực tiếp: Đây là hình thức xuất khâu thường được áp dụng đối với các sản phẩm nông sản, trong đó thì người bán - mua thiết lập một mối quan hệ trực tiếp với nhau (có thé là thông qua việc gặp mặt trực tiếp hay là qua thư từ hoặc là điện tín) để có thể thương thao, ban bạc xung quanh các van dé có liên quan tới hang hóa, giá cả cũng như các điều kiện giao dịch khác. Ưu điểm của hình thức này là không phải thông qua các khâu trung gian và lợi nhuận thu được từ hình thức nay cũng sẽ cao hơn các hình thức khác. Dựa vào những điều kiện của thương mại quốc, vai trò bán hàng trực tiếp của người bán có khả năng sẽ nâng cao sự uy tín của mình thông qua một số tiêu chuẩn: thực hiện đúng quy trình, 18 đảm bảo chat lượng sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người mua. Tuy nhiên, việc xuất khâu trực tiếp đòi hỏi người bán phải thực sự có sự nhanh nhạy về các mặt như: thông tin thị trường, giá cả sản phẩm, và các hàng rào thuế quan và phi thuế quan.
Hơn thế nữa, trong hình thức này, người bán cũng sẽ phải chịu những rủi ro về ty giá hồi đoái.