Luận án Chính sách thúc đẩy hợp tác liên kết sản xuất tiêu thụ thủy sản Việt Nam

Giới thiệu chính sách thúc đẩy hợp tác liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm ngành thủy sản Việt Nam. Phân tích chi tiết các biện pháp hỗ trợ và triển khai thực

Chuyên ngành

Kinh tế Quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

192
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách thúc đẩy hợp tác liên kết thủy sản

Ngành thủy sản Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Ngành này tạo ra giá trị xuất khẩu lớn mỗi năm. Các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thủy sản ngày càng được mở rộng. Các hình thức bao gồm hợp tác xã, tổ đội sản xuất, liên kết chuỗi giá trị. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển của các hình thức này. Mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chính sách giúp đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia. Các tỉnh trọng điểm như Sóc Trăng, Cà Mau, An Giang, Đồng Tháp đã triển khai nhiều mô hình liên kết hiệu quả. Sản phẩm chủ lực gồm tôm nước lợ, cá tra, cá ngừ. Hệ thống chính sách bao gồm hỗ trợ vốn, chuyển giao công nghệ, xây dựng thương hiệu. Các chính sách này góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm thủy sản.

1.1. Khái niệm hợp tác và liên kết trong sản xuất tiêu thụ thủy sản

Hợp tác trong sản xuất tiêu thụ thủy sản là sự liên kết giữa các chủ thể cùng tham gia chuỗi sản xuất. Các chủ thể bao gồm hộ nuôi trồng, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, thương lái. Liên kết là hình thức hợp tác có tổ chức chặt chẽ hơn, thường theo chuỗi giá trị. Nguyên tắc cơ bản là các bên cùng có lợi. Hình thức hợp tác đa dạng từ liên kết ngang giữa các hộ sản xuất đến liên kết dọc giữa sản xuất và chế biến. Liên kết giúp giảm chi phí, tăng giá trị sản phẩm.

1.2. Vai trò của hợp tác liên kết đối với ngành thủy sản Việt Nam

Hợp tác liên kết đóng vai trò then chốt trong phát triển ngành thủy sản. Hình thức này giúp ổn định nguồn cung nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu. Liên kết tạo điều kiện áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Các hộ nuôi trồng tiếp cận được thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn. Giá trị sản phẩm tăng nhờ kiểm soát chất lượng từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Rủi ro giảm khi các bên chia sẻ trách nhiệm và lợi ích. Liên kết còn giúp xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

II. Phân tích thực trạng hợp tác liên kết trong ngành thủy sản

Thực trạng hợp tác liên kết trong ngành thủy sản Việt Nam có nhiều điểm đáng chú ý. Các tỉnh trọng điểm đã hình thành vùng sản xuất quy mô hàng hóa. Sản phẩm chủ lực gồm tôm công nghiệp, tôm sinh thái, cá tra và cá ngừ. Tuy nhiên, mức độ liên kết còn hạn chế ở nhiều địa phương. Nhiều hộ nuôi trồng vẫn sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Chất lượng sản phẩm chưa đồng đều do thiếu kiểm soát quy trình. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân chưa bền vững. Giá cả bấp bênh ảnh hưởng đến quyền lợi các bên. Thương lái trung gian vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong chuỗi tiêu thụ. Hạ tầng logistics phục vụ thủy sản còn thiếu đồng bộ. Nguồn nhân lực tham gia liên kết còn yếu về kỹ năng quản lý. Thị trường xuất khẩu đòi hỏi tiêu chuẩn ngày càng cao.

2.1. Các hình thức hợp tác liên kết phổ biến hiện nay

Ngành thủy sản áp dụng nhiều hình thức hợp tác liên kết khác nhau. Hình thức thứ nhất là hợp tác xã nuôi trồng thủy sản. Các hợp tác xã tập hợp hộ nuôi để cùng sản xuất, tiêu thụ. Hình thức thứ hai là tổ đội sản xuất trên biển, phổ biến ở các tỉnh ven biển miền Trung. Hình thức thứ ba là liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp chế biến và cơ sở sản xuất. Mỗi hình thức có ưu nhược điểm riêng phù hợp với từng vùng miền.

2.2. Những thách thức trong triển khai hợp tác liên kết thủy sản

Triển khai hợp tác liên kết thủy sản đối mặt nhiều thách thức. Thách thức đầu tiên là thiếu vốn đầu tư cho hạ tầng sản xuất. Nhiều hộ nuôi trồng không tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi. Thách thức thứ hai là thiếu kiến thức về quản lý và kỹ thuật nuôi trồng. Người sản xuất chưa nắm bắt đầy đủ yêu cầu thị trường. Thách thức thứ ba là sự thiếu tin tưởng giữa các bên liên kết. Rủi ro về giá cả và thời tiết ảnh hưởng lớn đến hiệu quả liên kết.

III. Các giải pháp chính sách thúc đẩy hợp tác liên kết thủy sản

Chính phủ cần ban hành đồng bộ các giải pháp chính sách để thúc đẩy hợp tác liên kết thủy sản. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động hợp tác. Cần sửa đổi các quy định về hợp tác xã cho phù hợp thực tiễn. Giải pháp thứ hai là tăng cường hỗ trợ tài chính cho các tổ chức liên kết. Nhà nước cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ bảo hiểm sản xuất thủy sản. Giải pháp thứ ba là đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực. Chương trình đào tạo cần hướng đến kỹ năng quản lý và áp dụng công nghệ mới. Giải pháp thứ tư là xây dựng hệ thống thông tin thị trường minh bạch. Người sản xuất cần tiếp cận thông tin giá cả, nhu cầu thị trường kịp thời. Giải pháp thứ năm là phát triển hạ tầng logistics phục vụ ngành thủy sản. Cần đầu tư hệ thống kho lạnh, vận chuyển chuyên dụng.

3.1. Hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ hợp tác liên kết

Hoàn thiện cơ chế chính sách là giải pháp then chốt thúc đẩy hợp tác liên kết. Cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ về hợp tác kinh tế trong thủy sản. Chính sách thuế cần ưu đãi cho các tổ chức liên kết sản xuất. Quy định về hợp đồng liên kết cần rõ ràng, bảo vệ quyền lợi các bên. Nhà nước hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm thủy sản liên kết. Cơ chế giám sát chất lượng sản phẩm cần được tăng cường. Chính sách khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất thủy sản.

3.2. Nâng cao năng lực cho các chủ thể tham gia liên kết

Nâng cao năng lực chủ thể tham gia liên kết là giải pháp quan trọng. Chương trình đào tạo cần tập trung vào kỹ năng quản lý hợp tác xã. Hộ nuôi trồng cần được hướng dẫn quy trình sản xuất an toàn, đạt chuẩn. Doanh nghiệp chế biến cần nâng cao năng lực liên kết với cơ sở sản xuất. Tổ chức đào tạo về thị trường, xúc tiến thương mại cho người sản xuất. Xây dựng mô hình điểm về hợp tác liên kết để nhân rộng kinh nghiệm. Tăng cường vai trò của tổ chức ngành hàng trong kết nối các bên.

IV. Kết luận và ứng dụng chính sách thúc đẩy hợp tác thủy sản

Nghiên cứu về chính sách thúc đẩy hợp tác liên kết thủy sản cho thấy nhiều kết quả quan trọng. Các chính sách hiện hành đã góp phần phát triển ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Ứng dụng thực tiễn cho thấy hợp tác liên kết giúp tăng thu nhập cho người sản xuất. Chất lượng sản phẩm cải thiện đáng kể khi áp dụng mô hình liên kết. Giá trị xuất khẩu thủy sản tăng trưởng ổn định nhờ chuỗi liên kết chặt chẽ. Các tỉnh trọng điểm đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Mô hình hợp tác xã kiểu mới phát huy hiệu quả tại Sóc Trăng, Cà Mau. Liên kết chuỗi giá trị giúp cá tra Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chính sách hỗ trợ cần tiếp tục điều chỉnh phù hợp thực tiễn sản xuất. Đầu tư hạ tầng và đào tạo nhân lực là ưu tiên hàng đầu. Phát triển bền vững ngành thủy sản đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người sản xuất.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ triển khai chính sách hợp tác thủy sản

Triển khai chính sách hợp tác liên kết thủy sản rút ra nhiều bài học. Bài học đầu tiên là cần sự đồng bộ giữa các chính sách kinh tế nông nghiệp. Chính sách hỗ trợ phải phù hợp với điều kiện từng vùng miền. Bài học thứ hai là vai trò quan trọng của tổ chức ngành hàng trong liên kết. Hiệp hội tôm, cá tra đóng vai trò cầu nối hiệu quả giữa các bên. Bài học thứ ba là cần cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả liên kết. Sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương là yếu tố quyết định thành công.

4.2. Định hướng phát triển hợp tác liên kết thủy sản thời gian tới

Định hướng phát triển hợp tác liên kết thủy sản cần tập trung vào các mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là mở rộng quy mô liên kết theo chuỗi giá trị. Cần kết nối chặt chẽ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Mục tiêu thứ hai là ứng dụng công nghệ số vào quản lý chuỗi liên kết. Hệ thống truy xuất nguồn gốc giúp nâng cao giá trị sản phẩm. Mục tiêu thứ ba là phát triển thị trường nội địa song song với xuất khẩu. Cần xây dựng thương hiệu thủy sản Việt Nam bền vững trên thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Chính sách thúc đẩy các hình thức hợp tác liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm trong ngành thủy sản việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề và nhân rộng bởi FAO từ năm 2001. Đặng Kim Sơn (2001), trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm của thế giới và Việt Nam cho rằng: “sản xuất nông sản theo hợp đồng (contract farming-CF) hay hệ thống hợp đồng (contract symtem) là hình thức tổ chức sản xuất gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến hoặc kinh doanh nông sản bằng hợp đồng hai chiều quy định các điều kiện sản xuất và tiếp thị nông sản hàng hóa”. Điểm lợi chủ yếu của hình thức hợp tác sản xuất này là chia sẻ rủi ro, phân phối lợi nhuận hợp lý, tập hợp người sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ lẻ thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và ổn định, tăng cường trao đổi thông tin giữa thị trường với người sản xuất. Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng đã và đang tồn tại như là một phương tiện hữu ích trong sản xuất nông nghiệp thương mại đối với người nông dân.

Theo Lê Hữu Ảnh (2010), sự thay đổi trong sở thích tiêu dùng, cũng như nhu cầu ngày càng cao của thương mại thế giới đối với các sản phẩm tươi sống, đảm bảo an toàn vệ sinh đã khiến cho hình thức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng ngày càng được ưa chuộng và phát triển. Ngoài ra, theo nghiên cứu về phát triển thế chế giao dịch nông sản ở Việt Nam, Bảo Trung (2009) đã cho rằng phát triển thế chế giao dịch nông sản sẽ góp phần thúc đấy các hình thức giao dịch nông sản phát triên đa dạng và hiệu quả. Các giao dịch ngay tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nên kinh tế nước ta dưới hai hình thức là giao dịch phân tán và giao dịch tập trung. Trong đó, giao dịch thông qua hợp đồng là một hình thức tiên tiến sẽ đóng góp rất lớn trong viêc giải quyết bài toán tiêu thụ nông sản cho nông dân, nhất là các hộ nông dân sản xuất theo hợp đồng đối với một số sản phẩm có lợi thế xuất khẩu.

6 Khi nghiên cứu các sản phẩm cụ thể là lúa gạo, mía đường, chè, cà phê, sữa, lâm sản, chăn nuôi lợn và thủy sản, Lưu Đức Khải (2009) cho rằng nguyên nhân hạn chế tỷ lệ nông sản được sản xuất và tiêu thụ theo hợp đồng, bao gồm: hình thức hợp đồng chưa cụ thể cho từng loại sản phẩm, cơ chế hợp đồng chưa cho thấy sự minh bạch và chia sẻ rủi ro giữa các bên tham gia, và ý thức trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các bên tham gia. Qua đó nghiên cứu cũng đã đề xuất các biện pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng. Góp thêm về vấn đề hợp đồng trong sản xuất, Nguyễn Ngân Loan (2011), giải pháp để nâng cao liên kết của các chủ thể kinh tế trong ngành thủy sản là tổ chức lại sản xuất theo mô hình liên kết dọc, trong đó lấy người nuôi làm trung tâm, doanh nghiệp chế biến có vai trò đầu tàu của mối liên kết, doanh nghiệp chế biến chủ động trong việc thực hiện hàng loạt các hợp đồng: (1) Hợp đồng hỗ trợ và bao tiêu sản phẩm cho người nuôi; (2) Hợp đồng với các đại lý, công ty cung cấp đầu vào như giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản; (3) Hợp đồng với ngân hàng nhằm cung cấp tài chính, tín dụng (4) Hợp đồng bảo hiểm với các công ty bảo hiểm; (5) Hợp đồng với các Hiệp hội để được cung cấp các thông tin thương mại về giá cả, thị trường ; (6) Hợp đồng với các Viện , Trường, Tổ chức nghiên cứu để chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ. Để hạn chế tình trạng bất lợi về mất cân đối cung cầu, các mối liên kết trong ngành hàng cá tra và tôm sú đã hình thành tại Việt Nam những năm vừa qua.

Theo Nguyễn Phú Sơn (2007) xu hướng phát triển thị trường tương lai cá tra, cá basa ở ĐBSCL là tiếp tục mở rộng diện tích nuôi, chất lượng sản phẩm sẽ được chú trọng hơn, nhu cầu liên kết giữa những người nuôi thủy sản với nhau (liên kết ngang), liên kết giữa người nuôi thủy sản và các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu sẽ phát triển sâu rộng. Van Binh (2006), đầu ra của nông hộ nuôi cá tra được bán trực tiếp cho các thương lái trung gian và công ty chế biến xuất khẩu. Thị trường đầu vào và đầu ra của hộ nuôi cá tra phụ thuộc một phần vào nhóm, hội mà nông hộ nuôi cá tham gia vào (liên kết ngang). Có thể phân biệt hộ nuôi cá tra thành 3 nhóm: (1) Người nuôi cá thể - không tham gia bất cứ câu lạc bộ hoặc hội đoàn nào (không tham gia liên kết ngang); (2) Nhóm thuộc thành viên của hội thủy sản (như Hội thủy sản An Giang - AFA); (3) Nhóm thuộc thành viên Câu lạc bộ/HTX nuôi cá tra thuộc các công ty chế biến xuất khẩu.

Hồ Quế Hậu (2013) khi nghiên cứu về “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam” đã chỉ ra rằng hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được 7 những kết quả bước đầu đáng khích lệ, đã không những mang lại hiệu quả kinh tế cho các bên tham gia liên kết mà còn mạng lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ nét. Tuy vậy, hoạt động liên kết này vẫn còn ở quy mô và số lượng hạn chế, chất lượng thấp và hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân là do nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động liên kết kinh tế này chưa đúng đắn, chế tài và các cơ chế giám sát đảm bảo cho liên kết này vận hành còn nhiều bất cập, đồng thời Nhà nước chưa tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy liên kết phát triển. Theo Lê Thanh Sang, Nguyễn Đặng Minh Thảo (2015), liên kết trong sản xuất - tiêu thụ tôm tại một địa bàn nuôi tôm trọng điểm của Tây Nam Bộ Sản chủ yếu dựa trên quảng canh truyền thống, thiếu quy hoạch và phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào.

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu ổn định cả về sản lượng lẫn chất lượng tôm. Sự yếu kém về nguồn lực của hộ sản xuất và các chủ thể liên kết khác đã hạn chế nhu cầu và khả năng liên kết mang tình bền vững. Kết quả nghiên cứu “ Hợp tác liên kết nông dân trong sản xuất nông nghiệp theo tiếp cận thúc đẩy quyền, tiếng nói, lựa chọn của nông dân: Hiện trạng và khuyến nghị chính sách do Oxfarm, Viện nghiên cứu và Tư vấn phát triển thgực hiện tại 3 tỉnh mang tính đặc thù về sản xuất nông nghiệp và thị trường của 3 vùng khác nhau của Việt Nam: Ninh Bình (Đồng bằng Bắc Bộ), Lâm Đồng (Tây Nguyên) và Đồng Tháp (Đồng bằng sông Cửu Long), phát triển hợp tác, liên kết nông dân bền vững được xác định là chính sách quan trọng, nhằm đổi mới tổ chức sản xuất sau một thời gian dài không thực sự đem lại hiệu quả. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy hợp tác liên kết nếu được tổ chức tốt sẽ giúp phát huy nội lực của người nông dân và hiệu quả sản xuất, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực tự nhiên và xã hội, từ đó đảm bảo lợi ích và chia sẻ rủi ro một cách công bằng hơn giữa các bên.

Trong tương lai, xu hướng liên kết qua tổ chức của nông dân sẽ ngày càng phổ biến hơn so với hình thức liên kết trực tiếp giữa nông dân với doanh nghiệp qua các hợp đồng kinh tế, và là lựa chọn tốt hơn trong việc đảm bảo quyền lợi và tiếng nói của nông dân. Mô hình tổ hợp tác đang tăng mạnh do nông dân mong muốn liên kết trong điều kiện phù hợp với năng lực và nhu cầu của mình, có các giá trị chung được chia sẻ, các nguyên tắc căn bản về tự nguyện, tự chủ, tự quản, minh bạch được đảm bảo. Đề tài khoa học “Tổng quan chuỗi cung ứng thuỷ sản Việt Nam”, Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (2008); Báo cáo chuyên đề “Cải cách chính sách thương mại và thuỷ sản, cấu trúc lại chuỗi cung ứng, nâng cao nhu cầu đối với quản lý bền vững ngành thuỷ sản: trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam” của Nguyễn Thị Hồng Vân và cộng sự. Đề tài đã đánh giá chuỗi cung ứng cho hoạt động khai thác hải sản, phân tích 8 và đánh giá các bên liên quan trong chuỗi, phân tích đánh giá một số chính sách thương mại và thuỷ sản ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển chuỗi cung ứng sản phẩm hải sản khai thác đến người tiêu dùng cuối cùng cho sản phẩm tiêu thụ trong nước và đến các nhà nhập khẩu cho các sản phẩm xuất khẩu.

Bàn về vai trò của liên kết trong sản xuất nông sản, Hồ Thanh Thuỷ (2017) nhận định rằng liên kết chính là chìa khóa giúp phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, đảm bảo hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia. Quá trình liên kết đó có những đặc điểm riêng và đóng vai trò quan trọng: Góp phần đảm bảo các bên cùng có lợi; làm tăng hiệu quả trong sản xuất nông sản; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò quản lý nhà nước về kinh tế. Để phát huy vai trò của liên kết trong sản xuất nông sản, bài viết đã đề xuất một số giải pháp cơ bản, quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hiện nay. Theo Trương Thuý Bình (2015), Phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam.

Nhiều giải pháp có tính hỗ trợ nhau đã được đề xuất nhằm giải quyết cho vấn đề này. Mỗi giải pháp có tính hợp lý và vai trò riêng, bài viết này xin được đề cập sâu đến giải pháp mang tính chất quyết định khi phát triển thương hiệu cho hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam dưới dạng hình thức phát triển thương hiệu tập thể, đó là "Phát triển chuỗi liên kết cung ứng hàng thuỷ sản xuất khẩu”. Nghiên cứu về vai trò của liên kết sản xuất nông nghiệp đối với kinh tế hộ tại đồng bằng sông Cửu Long, Huỳnh Kim Thừa ( 2018) cho rằng: Sản xuất nông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tại đồng bằng sông Cửu Long, nhưng tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ là rào cản chính cho thế mạnh này của vùng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ