CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1.1 Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dịch chuyển FDI 1.1 Điều kiện kinh tế vĩ mô và vi mô quốc gia, điều kiện địa chính trị quốc tế Đầu tư nước ngoài luôn nằm trong bối cảnh biến động toàn cầu về kinh tế và công nghệ, khả năng cạnh tranh công nghiệp tổng thể của các quốc gia và các ngành kinh tế. Trong đó, các chỉ số kinh tế vĩ mô phổ biến (thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá hối đoái, sản lượng công nghiệp, thặng dư thương mại, tình hình cán cân thanh toán…) và các điều kiện kinh tế vi mô (vị thế cạnh tranh và sức mạnh tài chính của các doanh nghiệp địa phương, điều kiện ngành và tỷ lệ tập trung, chiến lược của doanh nghiệp …) được cho là sẽ xác định khối lượng và mô hình dòng chảy FDI (Fischer, 2000). Wint & Williams (2002) chỉ ra tốc độ tăng của thu nhập bình quân trên đầu người sẽ tỷ lệ nghịch với khả năng thu hút FDI. Các nhân tố được xem xét trong (Azzali & cộng sự, 2020) là cán cân tài khóa lành mạnh của chính phủ, và tỷ giá hối đoái thực tăng (Goldberg & Kolstad 1994; Mercereau 2005; Kiyota & Urata 2004), lạm phát thấp (Singhania & Gupta 2011; Demirhan & Masca 2008), lãi suất thấp (Siddiqui & Aumeboonsuke 2014) và hệ thống tài chính và các cơ quan thể chế khỏe mạnh (Mercereau 2005).
Nghiên cứu gần đây phân tích các yếu tố quyết định nguồn vốn FDI ra nước ngoài của Nhật Bản trong giai đoạn 1996-2017, phân tích những thay đổi tùy thuộc vào mức độ phát triển hoặc vị trí địa lý, cho kết quả: FDI của Nhật Bản được giải thích bởi lực hấp dẫn, các biến thể chế và tài chính vĩ mô, ở các nước phát triển, FDI theo chiều ngang chiếm ưu thế, trong khi ở Đông Á, FDI theo chiều dọc lại là chủ yếu (Camarero & cộng sự, 2021). Một nghiên cứu của Zhang (2005) đề cập đến yếu tố gần gũi về văn hóa, chính trị trong nguyên nhân chuyển dịch FDI vào Trung Quốc (quốc gia nhận FDI lớn thứ hai trên thế giới) đã chỉ ra rằng phần lớn FDI vào Trung Quốc không đến từ Bộ Ba của Thế giới (nhóm cung cấp 90% tổng vốn FDI toàn cầu: Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật Bản) mà đến từ Hồng Kong và Đài Loan (HK-T). Lượng FDI này (HKTDI) không thể được đánh giá một cách đầy đủ nếu không hiểu rõ vị trí địa lý của Trung Quốc và sự khác biệt giữa HKTDI và FDI từ Bộ Ba. Bốn yếu tố quyết định HKTDI thống trị ở Trung Quốc được xác định bao gồm: (1) chiến lược FDI thúc đẩy xuất khẩu của Trung Quốc, (2) nguồn lao động giá rẻ lớn, (3) lợi thế cụ thể của HKT trong FDI hướng đến xuất khẩu 8 và (4) mối liên kết độc đáo của HK-T với Trung Quốc.
Kết quả thực nghiệm cho thấy HKTDI chủ yếu được thúc đẩy bởi chi phí lao động thấp trong khi FDI từ Bộ ba hướng đến thị trường, tác giả nhận định khi thị trường nội địa của Trung Quốc trở nên cởi mở hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, tỷ trọng của HKTDI có thể giảm xuống và tầm quan trọng của FDI từ Bộ ba có thể tăng lên (Zhang, 2005). (Nguyen Thi Thanh Mai & cộng sự, 2021) tìm hiểu các xu thế lớn trên thế giới và ảnh hưởng của nó đến dịch chuyển FDI toàn cầu.2 Chiến lược toàn cầu và khu vực của MNC Nghiên cứu (Belderbos & Zou, 2006) phân tích mức độ và mô hình thoái vốn nước ngoài và tái định cư của các công ty điện tử Nhật Bản tại 9 quốc gia Đông Á trong giai đoạn 1995-2003, mặc dù tỷ lệ thoái vốn trung bình hàng năm của các công ty liên kết sản xuất điện tử là 3%, nhưng các hình thức thoái vốn được phân hóa giữa các quốc gia. Nghiên cứu chỉ ra thoái vốn và chuyển địa điểm liên quan đến chiến lược của các doanh nghiệp Nhật Bản nhằm cấu hình lại mạng lưới sản xuất ở châu Á của họ, nhằm đáp ứng với sự thay đổi của khả năng cạnh tranh, hội nhập khu vực và những thay đổi trong môi trường đầu tư địa phương (Belderbos & Zou, 2006). Trong khi đó, nghiên cứu (Yu-mei, 2012) xem xét quá trình toàn cầu hoá kinh tế và quyết định của các MNC trong việc tìm kiếm địa điểm thuận lợi để đầu tư, thông qua hình thành và điều chỉnh hệ thống phân công lao động công nghiệp toàn cầu và mô hình phân công lao động công nghiệp thông qua việc điều chuyển FDI giữa các quốc gia và khu vực, cho kết quả: động cơ của đầu tư nước ngoài đa quốc gia, các loại hình FDI khác nhau (tìm kiếm chi phí, tìm kiếm thị trường và tìm kiếm chính sách) có những đặc điểm, động lực và xu hướng khác nhau, cùng với gợi ý chính sách cho Trung Quốc với tư cách là một quốc gia dẫn đầu về thu hút FDI, sẽ phải đối mặt với vấn đề thoái vốn và tái định cư FDI.
Halaszovich & Kinra (2018) nghiên cứu tác động của khoảng cách, hệ thống giao thông quốc gia và hoạt động hậu cần đối với FDI và các mô hình thương mại quốc tế, với trường hợp GVC của châu Á.3 Hội nhập kinh tế khu vực (FTA truyền thống) và di dời công nghiệp của các nước Đánh giá tác động của hội nhập kinh tế khu vực đối với sự di dời công nghiệp của các nước tham gia, thể hiện thông qua FDI cũng đã được xem xét, bằng cách phân tích sự bất cân xứng về công nghệ và quy mô thị trường của các nước hội nhập, nghiên cứu chứng minh rằng hiệp định thương mại ưu đãi làm tăng dòng vốn FDI theo chiều dọc nội khối khi các nước hội nhập cho thấy sự khác biệt lớn về chi phí các nhân tố sản xuất, và khi khoảng cách công nghệ tương đối lớn giữa các nước hội nhập, FDI theo 9 chiều ngang giữa các khối có xu hướng đổ vào các khu vực có trình độ công nghệ cao hơn mặc dù chi phí sản xuất cao hơn (Kim, 2007). Vấn đề hội tụ FDI đối với một số nhóm các quốc gia đại diện cho nền kinh tế thế giới, [phân biệt giữa các nhóm quốc gia để hiểu rõ hơn về sự khác biệt tạo ra bởi các giai đoạn phát triển cụ thể, các đặc điểm thể chế và khu vực khác nhau] đã được nghiên cứu, với kết quả tổng thể hướng đến xu hướng hội tụ, khi xung lực của toàn cầu hóa gia tăng và sự di chuyển của lao động, vốn, kiến thức, v. trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn, sản xuất sẽ có xu hướng tập trung vào các thị trường lớn, các khu vực còn kém phát triển hơn, tạo ra một chu kỳ mới (Kottaridi & Thomakos, 2007). Tóm tắt trong bảng sau: Bảng 1.1: Yếu tố ảnh hưởng đến dịch chuyển dòng FDI vào quốc gia Đối tượng nghiên cứu Tác giả 1.
Bối cảnh toàn cầu và hoàn cảnh quốc gia Sự thay đổi kinh tế, công nghệ và khả năng cạnh tranh (Fischer, 2000),(Wint & công nghiệp tổng thể của các quốc gia và các ngành Williams 2002) kinh tế Goldberg & Kolstad (1994); Cán cân tài khóa lành mạnh của chính phủ, và tỷ giá Mercereau (2005); Kiyota & hối đoái thực tăng Urata (2004) Singhania & Gupta (2011); Lạm phát thấp Demirhan & Masca (2008) Siddiqui & Aumeboonsuke Lãi suất thấp (2014) Hệ thống tài chính và các cơ quan thể chế hoạt động tốt Mercereau (2005) Lực hấp dẫn, các biến thể chế và tài chính vĩ mô; Camarero & cộng sự (2021). tư trong FDI hướng đến xuất khẩu (4) mối liên kết chính trị, vị trí địa lý (Nguyen Thi Thanh Mai & Bối cảnh địa chính trị thay đổi cộng sự, 2021) 10 Đối tượng nghiên cứu Tác giả 2. Chiến lược toàn cầu và khu vực của doanh nghiệp/ MNC Chiến lược của các doanh nghiệp nhằm cấu hình lại mạng lưới sản xuất ở khu vực, đáp ứng sự thay đổi của Belderbos & Zou (2006). khả năng cạnh tranh, hội nhập khu vực và môi trường đầu tư địa phương => thoái vốn và tái định cư Các loại hình FDI khác nhau (tìm kiếm chi phí, tìm kiếm thị trường và tìm kiếm chính sách) có những đặc Yu-mei (2012).
điểm, động lực và xu hướng khác nhau. Khoảng cách, hệ thống giao thông quốc gia và hoạt động hậu cần, nghiên cứu từ chuỗi giá trị toàn cầu của Halaszovich & Kinra (2018). Chính sách hội nhập kinh tế khu vực và di dời công nghiệp của các nước Sự khác biệt lớn về chi phí các nhân tố sản xuất (bất cân xứng về công nghệ và quy mô thị trường của các Kim (2007). nước hội nhập Xung lực của toàn cầu hóa gia tăng, sự di chuyển của Kottaridi & Thomakos lao động, vốn, kiến thức, v.
trở nên dễ dàng (2007) Nguồn: Tác giả tổng hợp 1. Tác động của ký kết FTA thế hệ mới đến dịch chuyển nguồn vốn FDI Kết quả nghiên cứu thống kê đã ủng hộ cho sự hội tụ của các chính sách và các hoạt động khuyến khích đầu tư ở khu vực các nước đang phát triển, cho thấy hiệu quả rất khác biệt của các nỗ lực thu hút đầu tư, và khuyến nghị các nước đang phát triển cần chú trọng cải cách chính sách theo hướng toàn diện thay vì “chọn lọc”, và các hoạt động khuyến khích đầu tư không nên phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư nước ngoài và bản địa (Wint & Williams 2002). Một nghiên cứu khác đặt câu hỏi về vai trò các biến số như quy định và thể chế của nước chủ nhà thu hút hoặc làm giảm FDI ở mức độ nào tại các quốc gia mới nổi, thông qua việc tích hợp các quan điểm lý thuyết khác nhau: kinh tế học chi phí giao dịch, phân tích chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) và trách nhiệm pháp lý để xem xét tác động của các quy định (đặc biệt các vấn đề như quyền tài sản, tắc nghẽn về thủ tục và cơ sở hạ tầng) đối với sức hấp dẫn của một thị trường mới nổi trong 12 năm, cho thấy các quốc gia có các quy định khởi nghiệp hiệu quả hơn, bảo vệ mạnh mẽ hơn 11 đầu tư thiểu số, các thủ tục và cơ sở hạ tầng tốt hơn cho thương mại quốc tế xuyên biên giới sẽ thu hút nhiều vốn FDI hơn (Contractor, Nuruzzaman et al. Liệu rằng các nỗ lực chính sách được nghiên cứu đã cập nhật với tình hình quốc tế hiện nay, để đưa ra những gợi ý chính sách phù hợp cho chính phủ các nước hay chưa? 1.