lời mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 4 chương sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hàn Quốc vào Việt Nam. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của FDI Hàn Quốc vào Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Các tài liệu về FDI, tác động của FDI đối với nước nhận đầu tư “Tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế và tầm quan trọng của đặc điểm nước chủ nhà”, Hosein Elboiashi (2015). Bài viết đề cập đến các câu hỏi nghiên cứu cụ thể như: Đầu tư trực tiếp nước ngoài có đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển hay không? Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở một mức độ nào đó phụ thuộc vào điều kiện của nước sở tại. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rõ ràng rằng đầu tư trong nước, nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển thị trường tài chính, độ mở thương mại và chất lượng thể chế có mối quan hệ tích cực với tăng trưởng kinh tế. Kết quả cũng cho thấy khoảng cách công nghệ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.
“Tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với công nghiệp hóa của các quốc gia ASEAN”, Phạm Thanh Giang (2020). Luận văn xem xét và nêu bật tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới công nghiệp hóa tại các nước trong khu vực ASEAN từ năm 1999 đến năm 2018. Ngoài ra, vai trò thể chế và hành chính của Chính phủ góp phần nâng cao trình độ. về tác động tích cực của đầu tư trực tiếp tới công nghiệp hóa.
Mức thu nhập bình quân đầu người của các nước tỷ lệ thuận với trình độ công nghiệp hóa. Theo nghiên cứu của luận văn, việc các nước lựa chọn và thực hiện chính sách kinh tế phù hợp trong từng thời kỳ là rất quan trọng. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị chính sách cho các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng nhằm thu hút FDI và nâng cao hiệu quả, góp phần tích cực vào quá trình dòng vốn FDI. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn: Bằng chứng thực nghiệm từ các nước đang phát triển”, Đình Huyền Trang Thi, Võ Hồng Đức, Võ Thế Anh, Nguyên Công Thắng (2019).
Mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá, đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế ở 30 4 nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp từ năm 2000 đến năm 2014 trong cả ngắn hạn và dài hạn. Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước trong ngắn hạn nhưng cũng có tác động tích cực trong dài hạn. Thứ hai, tín dụng trong nước đối với khu vực tư nhân có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, trong khi cung tiền được cho là có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn. Vốn con người, tổng đầu tư trong nước và các khoản vay trong nước cho khu vực tư nhân có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Như vậy, có thể khẳng định đầu tư trực tiếp là nhân tố quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, đặc biệt đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở SSA: Vai trò của các thể chế”, Agyapomaa Gyeke-Dako (2016). Bài viết này xem xét mối quan hệ giữa FDI, thể chế và tăng trưởng kinh tế ở Châu Phi. Kết quả cho thấy các thể chế điều tiết tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế.
Ở những nước có thị trường tài chính phát triển, đầu tư trực tiếp có liên quan chặt chẽ đến tăng trưởng kinh tế. Ở những nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ trực tiếp và tích cực. Hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên khi chất lượng thể chế được cải thiện. Từ đó, các nước cần xem xét thực tế khi xây dựng chính sách tận dụng vốn FDI để đạt kết quả tăng trưởng tốt nhất.
Tổng quan các tài liệu về FDI vào Việt Nam “Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và giải pháp phát triển kinh tế Việt Nam”, Lâm Thùy Dương (2021). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xác định là một thành phần kinh tế quan trọng đối với Việt Nam. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tốt hơn nữa vai trò của FDI trong thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam. Tác giả sử dụng lý thuyết về vai trò và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế FDI để đánh giá vai trò và hiệu quả của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam.
Trong bối cảnh tổng lợi ích do FDI mang lại và thất thoát giá trị do FDI gây ra, tác giả tiến hành nghiên cứu vấn đề hiệu quả kinh tế của FDI, vai trò của 5 FDI đối với nền kinh tế Việt Nam và kiến nghị các giải pháp cần thực hiện để phát huy vai trò của FDI trong những năm tới. Theo nghiên cứu của Ngô Phúc Hạnh, Đào Văn Hùng (2017), Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung một lượng vốn lớn vào nền kinh tế Việt Nam, Việt Nam cơ bản sử dụng có hiệu quả và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra nghiên cứu tập trung phân tích số liệu thống kê nhiều năm để phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và tác động của nó đến các khía cạnh kinh tế, xã hội của Việt Nam. Nghiên cứu còn sử dụng phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo và thực hiện phân tích hồi quy khẳng định 3 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thu hút FDI tại Việt Nam, bao gồm nguồn lực (tài nguyên, lao động, tài chính), cơ sở hạ tầng và các chính sách hỗ trợ.
Từ đó, các tác giả cũng đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các tích cực, nâng cao chất lượng FDI Việt Nam trong giai đoạn tới như: tiếp tục nâng cao tính minh bạch; tiếp cận thông lệ quốc tế và cải cách hành chính, thủ tục; tiếp tục thích ứng và đầu tư vào cơ sở hạ tầng; và tiếp tục nâng cao chất lượng các nguồn lực, bao gồm cả lao động và các thể chế tài chính. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2019), Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia. Đối với các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, FDI có ý nghĩa hơn, có tác động lớn đến hoạt động cung cấp vốn, công nghệ và mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra những năng lực sản xuất mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá. Tuy nhiên FDI cũng có rất nhiều tác động tiêu cực ảnh hưởng đáng kể đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường… của nước ta.
Bằng các phương pháp lập luận, phân tích, bài viết phân tích những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến Việt Nam hiện nay và đưa ra một số khuyến nghị. Theo nghiên cứu của Phạm Thiên Hoàng (2018), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Trong bài viết, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để 6 mô tả, phân tích thực trạng FDI vào Việt Nam trong những năm qua; Phương pháp tổng hợp, đồ thị, so sánh để phân tích số liệu bằng các phương pháp đồ thị, phương pháp so sánh và bảng thống kê để đánh giá các đóng góp của thành phần kinh tế này đối với kinh tế, xã hội Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó, bài viết gợi ý một số vấn đề về chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp FDI tiếp tục đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Theo bài viết của Nguyễn Thị Mai Hương (2019), Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng góp phần bổ sung nguồn vốn đáng kể cho tăng trưởng, đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế đất nước, chuyển giao công nghệ, tăng cường khả năng xuất khẩu cũng như tạo thêm nhiều việc làm cho người dân. Bằng các phương pháp thu thập số liệu, phân tích và xử lý số liệu, nghiên cứu này khái quát năng lực cạnh tranh của khu vực FDI ở Việt Nam cũng như những đóng góp của khu vực FDI vào năng lực cạnh tranh quốc gia từ đó tìm ra một số hạn chế và đề xuất giải pháp tăng cường khai thác FDI nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian tới. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2020), Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên nguồn vốn FDI là một trong những nguồn vốn đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước. Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả, phân tích thực trạng FDI vào Việt Nam trong những năm gần đây; Phương pháp tổng hợp, đồ thị, so sánh để phân tích số liệu bằng các phương pháp đồ thị, phương pháp so sánh và bảng thống kê.
Qua những phương pháp đó, tác giả đã phân tích và đánh giá được tác động của FDI đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tác động tích cực FDI mang lại, không ít những tồn tại cần giải quyết; tác giả còn chỉ ra những tồn tại trong việc thu hút FDI và tác động tiêu cực của nó, từ đó đề ra những giải pháp để hạn chế những tiêu cực đó và phát huy hơn nữa hiệu quả của nguồn vốn FDI.