CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có từ rất lâu và có khá nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này. Theo IMF: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp mà hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế của nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Theo OECD, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: - Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư - Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có - Tham gia vào một doanh nghiệp mới - Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm) (OECD 2008, tr. 48-49) - Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. Ta thấy, hai khái niệm trên về cơ bản là giống nhau, đều nhấn mạnh đến mục tiêu thực hiện các lợi ích dài hạn của một chủ thể cư trú tại một nước, được gọi là nhà đầu tư trực tiếp thông qua một chủ thể khác cư trú tại nước khác, gọi là doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi chủ đầu tư phải thiết lập các mối quan hệ lâu dài và tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp.
Tuy nhiên, theo OECD thì khái niệm FDI đã chỉ ra cụ thể hơn các cách thức để nhà đầu tư tạo ảnh hưởng đối với hoạt động của doanh nghiệp nhận đầu tư. Về quyển kiểm soát doanh nghiệp FDI thì OECD cũng quy định rõ một mức nhất định để có quyền này. Luan van 7 Theo Luật đầu tư năm 2014 của Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 thì không đề cập đến khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài” mà chỉ có các khái niệm về “đầu tư kinh doanh” (thay thế cho hai khái niệm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp theo luật đầu tư năm 2005 đã hết hiệu lực) “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” và “nhà đầu tư nước ngoài”. “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” Ngoài ra trong Luật cũng có đề cập đến các hình thức đầu tư ra nước ngoài. Ví dụ, mua lại một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý và thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước ngoài hay mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài (được gọi là đầu tư gián tiếp ra nước ngoài); Nói tóm lại, FDI được hiểu chung là một hoạt động đầu tư từ nước này sang nước khác, trong đó chủ đầu tư đầu tư toàn bộ hoặc một phần đủ lớn để tham gia trực tiếp vào quá trình kiểm soát, quản lý hoạt động của Doanh nghiệp nhận đầu tư nhằm mục đích thu lợi nhuận. Hoạt động đầu tư nước ngoài thường được thực hiện thông qua các dự án – được gọi là các dự án ĐTTTNN (FDI). Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Thứ nhất, cũng giống như các loại hình đầu tư, mục đích cuối cùng của ĐTTTNN là tìm kiếm lợi nhuận.
Theo như các phân loại Đầu tư nước ngoài của IMF và OECD thì FDI là đầu tư tư nhân. Cũng chính vì lẽ đó mà ưu tiên hàng đầu của chủ đầu tư là lợi nhuận. Do vậy, để tránh tình trạng nguồn vốn FDI chỉ nhằm phục vụ cho Luan van 8 việc thu lợi nhuận của chủ đầu tư, mà hướng nguồn vốn này vào việc phát triển kinh tế, xã hội của nước mình thì các nước tiếp nhận đầu tư, nhất là những nước đang phát triển cần có khung pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI một cách hợp lý. (Vũ Chí Lộc 2012, tr.
Thứ hai, tùy theo quy định của mỗi nước nhận đầu tư thì các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu để nắm quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát, quản lý quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhận đầu tư. Ví dụ, theo quy định của OECD thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp (OECD 2008). Còn ở Việt Nam, để chủ đầu tư nước ngoài nắm quyền kiểm soát, quản lý hoạt động của Doanh nghiệp thì phải đáp ứng điều kiện được quy định khá rõ tại Điều 23 luật Đầu tư năm 2014 hoặc Điều 2, khoản 1.2 Dự thảo thay thế Thông tư số 131/2010/TT-BTC ngày 06/9/2010 của Bộ Tài chính, đó là: “Tổ chức kinh tế do bên nước ngoài nắm quyền chi phối: là tổ chức kinh tế theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư, gồm: Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; Công ty hợp danh có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài; Tổ chức kinh tế có thành viên hoặc cổ đông góp vốn là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên; Tổ chức kinh tế có thành viên hoặc cổ đông góp vốn là công ty hợp danh có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài; Tổ chức kinh tế có thành viên hoặc cổ đông góp vốn cùng nhau nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên là nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên Tổ chức kinh tế có thành viên hoặc cổ đông góp vốn cùng nhau nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên là nhà đầu tư nước ngoài và công ty hợp danh có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài.” Tỷ lệ góp vốn của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và cũng là cơ sở để phân chia lợi nhuận và rủi ro. Luan van 9 Thứ ba, hoạt động đầu tư và quyết định sản xuất kinh doanh là do chủ đầu tư tự quyết, tự quyết về lĩnh vực đầu tư, tự quyết về hình thức đầu tư, tự quyết về thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như tự quyết về việc áp dụng công nghệ.
Do đó, chủ đầu tư sẽ đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Đồng thời, thu nhập mà chủ đầu tư nhận được sẽ phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. Thứ tư, FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua hoạt động FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể được tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm về quản lý.
Bằng chứng là việc các Doanh nghiệp FDI nhập khẩu rất nhiều máy móc hiện đại từ các quốc gia trên thế giới để áp dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và đơn vị vận hành đều có người Việt Nam. (Vũ Chí Lộc 2012, tr. Việc tìm hiểu và nắm vững những khái niệm cũng như đặc điểm của FDI sẽ giúp chúng ta có được nền tảng căn bản để đi sâu tìm hiểu những vấn đề có liên quan. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTTTNN là một hoạt động tất yếu khách quan đối với cả chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư và trong những năm gần đây thì hình thức này chiếm vị trí chủ yếu trong đầu tư quốc tế.
Chủ đầu tư khi đầu tư trực tiếp sang nước ngoài thì muốn tận dụng lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư để mở rộng kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình và vươn tầm hoạt động ra thế giới. Trong khi, nước tiếp nhận đầu tư thì muốn thu hút nguồn vốn này nhằm tập trung cho phát triển kinh tế-xã hội của nước mình. Do đó, ĐTTTNN không chỉ có ý nghĩa đối với nước tiếp nhận đầu tư mà còn cả đối với chủ đầu tư. Cụ thể: Vai trò của FDI đối với chủ đầu tư - Giúp các chủ đầu tư kiếm được nhiều lợi nhuận hơn.
Bởi lẽ khi tại nước của chủ đầu tư hay các thị trường sản phẩm quen thuộc bị tràn ngập sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loại với đối thủ cạnh tranh thì chủ đầu tư phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm đó, và khi đầu tư ra nước ngoài, đương nhiên chủ đầu tư sẽ Luan van 10 tận dụng được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư so với thị trường cũ như lao động rẻ hay nguồn tài nguyên chưa bị khai thác nhiều để qua đó giảm chi phí sản xuất và kiếm lợi nhiều hơn. - Giúp chủ đầu tư mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, khắc phục tình trạng lão hóa sản phẩm, đổi mới cơ cấu sản phẩm, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh (Vũ Chí Lộc 2012, tr.48) - Giúp các chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đối thủ có sản phẩm cùng loại. (Vũ Chí Lộc 2012, tr.