Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp điện tử của một quốc gia Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2014-2019 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thu hút đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam đến 2030 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ CỦA MỘT QUỐC GIA 1. Khái niệm và vai trò của thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CN-ĐT của một quốc gia Khái niệm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CN-ĐT của một quốc gia: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CN-ĐT là những hoạt động, chính sách của chính phủ, nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào iv ngành CN-ĐT của một Quốc gianhằm mục đích đầu tư để phát triển ngành nghề, thu được lợi nhuận hay các lợi ích kinh tế khác. Vai trò của thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CN-ĐT: - Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho việc phát triển ngành CN-ĐT - Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý - Tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu - Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công - Làm tăng nguồn thu ngân sách 1. Đặc điểm của ngành CN-ĐT trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CN-ĐT 1.
Về ngành công nghiệp điện tử Ngành công nghiệp điện tử là một chuyên ngành nằm trong ngành công nghệ chế biến, chế tạo. Đây là ngành kết hợp giữa điện tử dân dụng và điện tử máy tính bao gồm các thiết bị điện tử, cấu trúc máy tính, cài đặt và quản trị mạng. Nội dung thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CN-ĐT - Lập kế hoạch huy động vốn - Chính sách thu hút FDI - Các hình thức đầu tư thu hút FDI vào ngành CN-ĐT 1. Ngành CN-ĐT trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Các dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp điện tử này thường là các dự án có nguồn vốn đầu tư lớn với công nghệ sản xuất hiện đại.
Ngành CN-ĐT là ngành cần có một nguồn vốn đầu tư lớn cho máy móc, thiết bị nhà xưởng, vốn đầu tư cho nhân công và các chi phí quản lý DN. Do vậy, để phát triển ngành CN-ĐT thì việc thu hút FDI đầu tư là rất quan trọng. Một số yếu tố ảnh hƣởng và tiêu chí đánh giá thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CN-ĐT của một Quốc gia 1. Một số yếu tố ảnh hưởng thu hút FDI vào ngành CN-ĐT - Môi trường Chính trị - Xã hội - Liên quan đến nước tiếp nhận đầu tư như: v + Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, khí hậu + Các khung chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động FDI và các kế hoạch phát triển ngành CN-ĐT + Các chính sách đầu tư và mại trong nước đối với các sản phẩm của ngành CN-ĐT + Môi trường đầu tư + Xu thế hợp tác và sát nhập toàn cầu ngày càng tăng cao + Việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ 1.
Một số tiêu chí đánh giá thu hút FDI vào ngành CN-ĐT - Quy mô và số dự án đầu tư - Cơ cấu đầu tư - Chỉ tiêu liên quan đến kết quả thu hút 1. Thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào ngành CN-ĐT Việt Nam 1. Tình hình chung thu hút FDI vào Việt Nam Tính theo lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 20/03/2020 thì Hàn Quốc lại đứng đầu bảng với tổng vốn đăng ký 68,57 tỷ USD (chiếm 18,5% tổng vốn đầu tư). Nhật Bản đứng thứ hai với 59,7 tỷ USD (chiếm 16,1% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore, Đài Loan và Hồng Kông.
Lợi thế của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CN-ĐT 1. Về phía Việt Nam - Vị trí địa lý - Tình hình an ninh, chính trị ổn định - Nguồn nhân lực dồi dào và chi phí rẻ - Chính phủ Việt Nam luôn khuyến khích, hỗ trợ các công ty đầu tư nước ngoài - Đa dạng tài nguyên khoáng sản 1. Về phía Hàn Quốc - Hàn Quốc là đối tác lớn của Việt Nam vi - Hàn Quốc là nước công nghiệp phát triển, có thế mạnh về công nghiệp điện tử - Chính sách đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc đang hướng về các nước ở khu vực Châu Á CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP CỦA HÀN QUỐC VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2014-2019 2. Tình hình chung về đầu tƣ trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam 2.
Đặc điểm và xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc Đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc tập trung chủ yếu vào các ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo, Khai khoáng, Tài chính và bảo hiểm, Bán buôn bán lẻ, Bất động sản và cho thuê. Trong đó, các doanh nghiệp Hàn Quốc đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 153 tỷ USD, chiếm 30%, khai khoáng là 100 tỷ USD, chiếm 20% tổng OFDI của Hàn Quốc. Hoạt động đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam - Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc theo ngành: Hàn Quốc đầu tư vào dệt may, thiết bị điện tử, đồ dân dụng, hạ tầng đến năng lượng, ô tô, hàng không vũ trụ, bất động sản, tài chính ngân hàng, logistics, dịch vụ và các sản phẩm xuất khẩu - Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc theo địa phương: Các dự án đầu tư của Hàn Quốc tập trung ở các thành phố lớn, là nơi có cơ sở hạ tầng phát triển như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Bình Dương, Thái Nguyên. Những thành phố trung tâm như Hà Nội, Hồ Chí Minh thì sẽ chú trọng đầu tư vào các ngành dịch vụ, bất động sản hay tài chính ngân hàng - Đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc theo hình thức: Các nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam chủ yếu dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài (85%), hình thức liên doanh (10%) và còn lại là hợp đồng hợp tác kinh doanh 2.
Về ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam Ngành công nghiệp điện tử nước ta hình thành chậm hơn so với các ngành khác nhưng lại có tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh và ổn định qua từng năm. vii Sau khi hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế trong khu vực thì ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trở thành một bộ phận của thị trường sản phẩm điện tử Quốc tế. Các sản phẩm điện tử nước ngoài đã vào Việt Nam dưới nhiều hình thức: Nhập khẩu chính thức linh kiện và bộ linh kiện, nhập khẩu các sản phẩm nguyên chiếc và các sản phẩm do các công ty liên kết nước ngoài sản xuất tại Việt Nam Ngành công nghiệp điện tử thường tập trung các nhà máy, khu công nghiệp và xí nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bình Dương, Long An và Đồng Nai. Sản phẩm sản xuất chủ yếu là điện thoại, máy tính, ti vi và các linh kiện điện tử.
Sơ lược về ngành công nghiệp điện tử của Hàn Quốc Vào năm 1958, Công ty Goldstar (nay là Công ty điện tử LG), một công ty điện tử đầu tiên của Hàn Quốc đã được thành lập. Năm 1959, công ty đã sản xuất thành công chiếc máy radio điện tử chân không đầu tiên, mở ra những bước đi đầu tiên cho ngành công nghiệp điện tử của Hàn Quốc. Thời kì đầu vẫn còn non yếu cho tới khi ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ và có những thay đổi tích cực hơn. Ba nhóm sản phẩm chính của ngành điện tử Hàn Quốc là chất bán dẫn, bảng hiển thị và điện thoại di động, bao gồm cả thành phẩm, các bộ phận và linh kiện.
Xuất khẩu ba mặt hàng này chiếm hơn hai phần ba tổng số hàng xuất khẩu công nghệ thông tin của Hàn Quốc mỗi năm. Năm 1969 đánh dấu nhiều sự kiện của ngành công nghiệp điện tử Hàn Quốc khi Công ty điện tử Samsung Electronics - là công ty điện tử lớn nhất và có sự ảnh hưởng mạnh mẽ nhất tới nền kinh tế của Hàn Quốc được thành lập. Samsung sản xuất ra chiếc tivi đen trắng đầu tiên vào năm 1972 và sau này mở rộng ra các sản phẩm như tủ lạnh, máy giặt và tivi màu, máy tính. Samsung trở thành nhà sản xuất vi mạch nhớ lớn nhất thế giới vào năm 1992 và là nhà sản xuất vi mạch lớn thứ 2 thế giới sau Intel.
Các sản phẩm công nghiệp điện tử tiêu dùng Hàn Quốc có thế mạnh gồm có: Sản phẩm hình ảnh và âm thanh, vô tuyến, máy tính xách tay, thiết bị gia dụng chính như: Điều hòa, tủ lạnh, máy giặt, máy rửa bát, thiết bị gia dụng nhỏ, máy chế viii biến thực phẩm, lò vi sóng và bàn là. Trong đó, chiếm thị phần lớn nhất là các thiết bị truyền hình, tiếp theo là hàng điện lạnh. Phân tích thực trạng đầu tƣ trực tiếp của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2014-2019 Trong giai đoạn 2014-2019, nhờ việc đưa ra các chính sách mở cửa, có ưu đãi về thuế cộng thêm việc có sẵn lợi thế về vị trí địa lý và nguồn lao động dồi dào với chi phí rẻ, Việt Nam đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư đến từ nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc. Trong 5 năm gần đây, với sự tiến bộ và phát triển của công nghệ, nhu cầu người tiêu dùng cho các sản phẩm điện tử ngày càng tăng cao.
Do vậy, ngành công nghiệp điện tử Việt Nam đã không ngừng được cải tiến và nhanh chóng thu hút được nhiều nhà đầu tư đến từ nước ngoài. Quy mô và số dự án đầu tư của Hàn Quốc vào ngành công nghiệp điện tử ở Việt Nam 5 năm trở lại đây, quy mô đầu tư của Hàn Quốc trong một dự án lĩnh vực công nghiệp điện tử Việt Nam thì khoảng 600 triệu – 1 tỷ USD/ dự án nên có thể nói các dự án FDI trong lĩnh vực CN-ĐT đều ở mức độ trung bình với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu. Giai đoạn 2014-2019, cả nước có khoảng 4800 dự án đầu từtừ nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp điện tử.