Chương 1. QUA TRÌNH MO CUA THU HUT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TỪ 1986 đến 1995 1. Bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam từ 1986 đến 1995 Sau khi miền Nam được giải phóng, hai miền Nam - Bắc thống nhất, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách xây dựng và phát triển kinh tế, nhằm đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, mô hình kinh tế tập trung, bao cấp đã sớm bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết, khiến nhiều mục tiêu kinh tế mà Đại hội IV và Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra không đạt được.
Đến giữa thập niên 1980, Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và toàn diện về kinh tế - xã hội. Đời sống người dân hết sức khó khăn, lạm phát phi mã, trong khi đất nước bị bao vây, cắm vận. Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam do Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, trình bày ngày 15/12/1986 đã đánh giá lại giai đoạn lịch sử từ sau thời điểm thống nhất đất nước đến hết năm 1986. Theo đó, “việc đánh gia tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước, đã có nhiễu thiếu sót.
Do đó, trong mười năm qua, đã phạm nhiễu sai lam trong việc xác định mục tiêu và bước di về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa va quan lý kinh tế.”" A ysl Do đó, đất nước cần tiễn hành một cuộc Đổi Mới toàn diện, trong đó có đổi mới về tư duy và mô hình quản lý kinh tế. Tháng 5/1988, Bộ Chính tri Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-TW, xác định phương châm lợi ích cao nhất của Dang và nhân dân ta là phải củng cô và giữ vững hòa bình dé tập ' Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 15 trung sức xây dựng và phát triển kinh tế.
Nghị quyết số 13/NQ-TW cũng xác định quan điểm chỉ đạo trong quan hệ quốc tế là “thém ban, bớt thi”, làm thất bại âm mưu bao vây, cô lập về kinh tế, chính trị; kiên quyết chủ động chuyền cuộc dau tranh từ trạng thái đối đầu sang đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hòa bình. Nghị quyết cũng nhấn mạnh cần tranh thủ sự phát triển của cách mạng khoa học - kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế. Đồng thời, báo cáo đã kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, theo đó xác nhận Việt Nam “đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ”, và xác định chủ trương đấu tranh thúc đây từng bước việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Nghị quyết 13 chỉ rõ việc Việt Nam cần có chính sách mới toàn diện đối với Hoa Kỳ nhăm tranh thủ dư luận nhân dân Hoa Kỳ và thế giới, qua đó tạo điều kiện thuận lợi để tập trung giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) đã mở ra công cuộc Đôi Mới của đất nước. Tuy nhiên, một số hiện tượng đổi mới cục bộ đã bắt đầu ngay từ cuối thập niên 1970 với những chuyên biến bước đầu trong nhận thức của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Hoàn cảnh khó khăn của điều kiện kinh tế - xã hội đã thúc đây Việt Nam tiến hành những thử nghiệm điều chỉnh cơ chế quản lý nền kinh tế. Nhà nghiên cứu Đặng Phong, trong công trình Phá rào trong kinh tế và đêm trước Đồi Mới đã tong kết, lựa chọn 20 cuộc “phá rào” mang tính tiêu biểu cho một số ngành nghề, [ĩnh vực.
Những cuộc “phá rào” đó gồm thí điểm khoán ở Vĩnh Phúc; khoán ở Nông trường Sông Hậu; đột phá ở Nhà máy Dệt Nam Định; đột phá ở Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội; khoán ở Công ty xe khách Thành phố Hồ Chí Minh; cuộc đâu tranh kiên trì 20 năm đê sửa đôi hệ thông giá; câu chuyện về 16 những đường dây buôn bán và thanh toán với nước ngoài.” Đây được coi là những tiền đề quan trọng dé Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc Đồi Mới. Công cuộc Đổi Mới của Việt Nam được tiễn hành trong bối cảnh đất nước bị bao vây, cắm vận bởi các nước phương Tây. Nguồn viện trợ quan trọng từ Liên Xô và các nước Đông Âu cũng bị mat đi. Một loạt các giải pháp đã Chính phủ Việt Nam được thực hiện như cải cách từng bước về lao động, tiền lương, cải cách doanh nghiệp nhà nước, thương mại, nông nghiệp.
Việt Nam đã xóa bỏ hệ thống tem phiếu, hủy bỏ trợ cấp qua giá và chế độ hai giá, chuyển sang vận dụng hệ thống giá cả thị trường, tỷ giá và tiền tệ, kết hợp giữa cải cách trong nội bộ nên kinh tế với hội nhập kinh tế quốc tế, vượt qua bao vây và cắm vận. Nhờ đó, nền kinh tế Việt Nam đã dần bước vào quỹ đạo phát trién, tự túc được lương thực, trở thành một nước xuất khẩu nông - thủy sản quan trọng. Việt Nam cũng từng bước vượt qua ngưỡng nước có thu nhập thấp, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình thấp”. Đánh giá về giai đoạn này, Đặng Phong cho rằng những bước đột phá từ cuối thập kỷ 1970 cho tới giữa thập kỷ 1980 có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp Việt Nam thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng, sụp đồ, qua đó đã chuẩn bị những điều kiện nhiều mặt cho công cuộc Đôi Mới.
Đây là một quá trình vừa đi vừa tìm đường và mở đường, theo đó mỗi bước đột phá là một bước sáng tỏ ra con đường đi tiếp, cuối cùng tới đổi mới toàn cục”. Các nhà nghiên cứu quốc tế cũng có chung nhận định rằng đây là giai đoạn ghi nhận những chuyền biến hết sức quan trọng về nhận thức trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, Đại hội VI đã phản ánh thành công của quá trình đạt được sự đồng thuận trong nội bộ Đảng. Martin Rama, chuyên gia kinh tế của World Bank (giai đoạn 2002-2010) có nhận xét: “Các cuộc thảo ? Đặng Phong (2014), Phá rào trong kinh tế vào đêm trước Đổi Mới, Nxb.
Tri thức, Hà Nội, tr. 3 Lê Đăng Doanh (2017), Kinh tế Việt Nam ba mươi năm sau Đổi Mới: Can một cuộc đổi mới lần thứ 2, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr. * Đặng Phong (2014), sđd, tr.
17 luận không phải lúc nào cũng êm xuôi, và những người tham gia được nhắc nhở thường xuyên về tinh than đoàn kết trong việc khắc phục những sự bat đồng. Những người chủ trương cấp tiễn phải đông ý chờ đợi, còn những người bao thu duoc thuyét phuc tang tốc cho nhanh hơn. Kết quả là lựa chọn tốc độ chuyển đổi trung bình, kìm bớt những người muốn tiễn nhanh và thúc đẩy những người thích đi chậm. Như vậy, cân xem Đổi Mới như một quá trình mà động lực thay đổi được xây dựng từ từ theo thời gian và theo kinh nghiệm thu được ”.
Từ những kết quả đạt được trên thực tế, niềm tin và ý chí của các cấp lãnh đạo càng được củng cô dé đây mạnh Đổi Mới, cho dù vẫn còn những băn khoăn nhất định trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài (1987) Ké từ năm 1975, bước vào giai đoạn xây dựng đất nước thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam cần thêm nhiều nguồn lực. Trong bối cảnh đó, việc huy động, sử dụng các nguồn vốn từ nước ngoài đã được tính đến. Báo cáo chính trị tại Đại hội IV của Đảng (tháng 12/1976) đã nêu vấn đề tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thé hiện sự phân công, hợp tác, tương trợ trên tinh thần quốc tê xã hội chủ nghĩa; đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi.
Đầu năm 1977, chủ trương soạn thảo một văn bản pháp luật tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã được thông qua. Tổ biên soạn được thành lập gồm ông Trịnh Văn Bính (Bộ Tài chính), GS.Nguyễn Ngọc Minh (Viện Luật học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam), ông Lê Kim Chung (Bộ Ngoại giao) và luật sư Lưu Văn Đạt (Bộ Ngoại thương) dé soạn thao văn bản này”. Ngày 19/4/1977, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 115-CP ban hành Điều lệ Dau tw nước ngoài (gọI tắt là Điều lệ đầu tư năm 1977). Đây là văn bản đầu tiên của Việt Nam về đầu tư trực tiếp nước ngoài, > Martin Rama (2008): Những quyét sách khó khăn: Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi, World Bank, tr.
5 Luu Văn Dat (2008), 20 nam đấu tu nước ngoài — Nhìn lại và hướng tới, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr. 18 mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa hoạt động kinh tế đối ngoại. Điều lệ đầu tư năm 1977 gồm 7 chương và 27 điều, trong đó quy định về các vấn đề quan trọng như lĩnh vực đầu tư và đối tác đầu tư.
Theo đó, về lĩnh vực đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài có thé đầu tư vào lĩnh vực khai thác tài nguyên, các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải. từ những lĩnh vực, những ngành mà Việt Nam chỉ dành cho đầu tư trong nước. Về đối tác đầu tư, Điều lệ đầu tư năm 1977 quy định các đối tác nước ngoài được phép đầu tư tại Việt Nam có thé là xí nghiệp, công ty, tổ chức tư nhân, tổ chức Nhà nước, tổ chức quốc tế hoặc từng cá nhân. Đặc biệt, Điều lệ đầu tư năm 1977 cũng quy định ba hình thức đầu tư là: (i) Hình thức Họp tác sản xuất chia sản phẩm; (ii) Hình thức xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp và (iii) Hình thức xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu.
Hình thức thứ ba được xem là tiền đề của hình thức công ty 100% vốn nước ngoài hiện nay.” Điều lệ Đầu tư năm 1977 đã nhận được sự quan tâm của các tổ chức quốc tế.