Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái quát về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Một số khái niệm liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật Đầu tư 2005 định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình khác hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo định nghĩa này thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn gồm các tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư được pháp luật cho phép, như vậy, tất cả những nhà đầu tư đều được tham gia đầu tư vào tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, định nghĩa này chưa phản ánh được mục tiêu của các nhà đầu tư là phải sinh lợi. Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng “đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tương lai". Quan điểm này đã nhấn mạnh được mục đích của đầu tư là thu lợi ích trong tương lai nhưng lại chưa phản ánh được chủ thể mong muốn thu lợi ích trong tương lai. Đứng trên phương diện của nhà đầu tư thì đầu tư là hy sinh tiêu dùng hiện tại để hy vọng có được thu nhập cao hơn trong tương lai.
Đối với từng chủ thể trong nền kinh tế, đó là tạo ra hoặc tăng thêm lợi ích, những giá trị riêng biệt cho các chủ thể. Xét trên toàn bộ nền kinh tế, đầu tư chính là tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho toàn xã hội. Theo Nghị định số 16/2014/NĐ-CP ngày 03/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam đã quy định cụ thể về khái niệm liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, trong đó: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là việc người không cư trú bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Vốn đầu tư bao gồm vốn bằng tiền, các 8 Luan van tài sản hợp pháp khác do người không cư trú đưa vào Việt Nam, lợi nhuận của người không cư trú được giữ lại để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.” Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một DN hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự DN”.
Lợi ích lâu dài ở đây được hiểu là khi tiến hành đầu tư FDI, các nhà đầu tư thường đặt ra các mục tiêu lợi ích dài hạn. Mục tiêu lợi ích đòi hỏi phải có một quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư và DN nhận đầu tư. Quyền quản lý thực sự DN hay quyền kiểm soát DN là quyền tham gia vào các quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của DN, như thông qua chiến lược hoạt động của DN, thông qua và phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý của DN đề ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận của DN, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sống còn của DN. Theo Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2003): “FDI là một khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một DN thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)”.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996): “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.” Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2008), FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ lâu dài với một DN đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý DN nói trên bằng cách: Thành lập hoặc mở rộng một DN hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu 9 Luan van tư; mua lại toàn bộ DN đã có; tham gia vào một DN mới; cấp tín dụng dài hạn (>5 năm); quyền kiểm soát – nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
Tóm lại, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hay một phần vốn đủ lớn vào dự án đầu tư, cho phép họ giành quyền quản lý hoặc trực tiếp tham gia quản lý dự án đầu tư. Đồng thời, họ cũng chịu trách nhiệm theo tỷ lệ góp vốn về kết quả sản xuất kinh doanh của dự án. Do sự di chuyển vốn đầu tư FDI thường đi kèm với đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanh nên loại hình đầu tư này góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước nhận đầu tư. Đặc điểm và các hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đặc điểm về nguồn vốn Khác với nguồn vốn vay, việc tiếp nhận vốn FDI không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận đầu tư, đây là một ưu điểm so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, sản xuất và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không tạo gánh nặng nợ quốc gia, sẽ đảm bảo an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn nhiều so với các khoản vốn vay quốc gia khác. FDI mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận đầu tư nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về vốn, về kỹ thuật và công nghệ mới.
Vì thế, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá (CNH), chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo tốc độ tăng trưởng nhanh cho nước nhận đầu tư. Thông qua việc đầu tư sản xuất ở nước tiếp nhận vốn, các chủ DN FDI thường nhập khẩu các máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, bí quyết kỹ thuật và thậm chí đưa cả cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý vào nước nhận đầu tư để phục vụ cho việc thực hiện dự án. 10 Luan van Đặc điểm về quyền quản lý vốn Việc quản lý DN FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn. Tỷ lệ góp vốn càng cao thì quyền quản lý ra quyết định càng lớn.
Nếu nhà đầu tư góp 100% vốn thì DN đó hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý. Tỷ lệ vốn góp của chủ đầu tư sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và mức độ rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỷ lệ này. Đặc điểm về quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn Khác với hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài, chủ đầu tư FDI vừa là người chủ sở hữu, vừa là người sử dụng vốn đầu tư. Trong thời gian đầu tư, quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư.
Chủ sở hữu vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh. Việc phân chia thành viên Hội đồng quản trị, việc điều hành quá trình sử dụng vốn được phân chia theo tỷ lệ góp vốn. Chủ sở hữu được hưởng lợi ích do hoạt động đầu tư mang lại. Mục đích quan trọng của các chủ sở hữu vốn là việc giành quyền kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư mà họ bỏ ra, đặc biệt trong việc quyết định một số vấn đề quan trọng hoạt động của DN.
Đầu tư FDI thường gắn liền với việc xây dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tư dài, lượng vốn đầu tư lớn, có tính ổn định cao tại nước nhận đầu tư. Đây là những đặc điểm phân biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp. Đầu tư gián tiếp thường là những dòng vốn có thời gian hoạt động ngắn và có thu nhập thông qua việc mua bán chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu,. Do tính chất trực tiếp của hình thức đầu tư này nên vốn FDI ít chịu sự chi phối, ràng buộc của Chính phủ so với các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài khác, lĩnh vực mà vốn FDI thường hướng tới là những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài Phân theo mục đích đầu tư - Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang là việc một công ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh tranh. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở nước ngoài. 11 Luan van - Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc là loại đầu tư mà công ty đặt các công đoạn sản xuất ở những vị trí khác nhau trên phạm vi toàn cầu, nhằm tận dụng lợi thế so sánh ở các nền kinh tế khác nhau, hạ thấp giá thành sản phẩm thông qua sản xuất hàng loạt và chuyên môn hoá, tăng khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.