Chương 1: Những vấn đề chung về ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ giao tiếp trên mạng xã hội Chương 2: iễng Việt trên mạng xã hội Facebook Chương 3: Giải pháp định hướng phòng ngừa sự ảnh hưởng của ngôn ngữ mạng đối với cách viết của học sinh Trung học phổ thông. Chuong 1 NHỮNG VẤN ĐÈ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ GIAO TIẾP. 'VÀ NGÔN NGỮ GIAO TIẾP TRÊN MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK 1. Ngôn ngữ giao tiếp.
Các khái niệm cơ bảm 1. Ngôn ngữ là gì? Có ngôn ngữ va khả năng sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng quan trọng phân biệt người và động vật. Không có một con người bình thường nào không, dùng ngôn ngữ. Ngôn ngữ gần gũi, thân thiết như những gì gần gũi và thân.
thiết nhất mà con người có thể có. Nhưng ít ai đặt câu hỏi “Ngén ngữ là gi?”. Điều đó cũng giống như không khí rất quan trọng đối với con người, song mấy khi ta nghe một người nào đó hỏi “ông khứ là gì?”. Tuy nhiên, “Ngôn ngữ là gì?" là một trong những câu hỏi đầu tiên mà Ngôn ngữ học phải trả lời và cũng là một trong những vấn đề đầu tiên mà một người học Ngôn ngữ học phải biết.
“Trong giao tiếp hằng ngày, chúng ta thường dùng từ ngữ như ngôn ngữ. của loài hoa, ngôn ngữ của loài vật, ngôn ngữ âm nhạc, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ điêu khắc, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ lập trình, ngôn ngữ toán. Từ ngôn ngữ trong những cách dùng như vậy không được hiểu theo nghĩa gốc. của nó, mà chỉ được dùng với nghĩa phái sinh theo phép ẩn dụ, hoán dụ, dựa trên cơ sở nét tương đồng giữa ngôn ngữ với những đối tượng được nói đến: công cu dùng để biểu đạt, để thể hiện một điều gì đó.
Vậy, ngôn ngữ là một hệ thống đấu hiệu đặc biệt, được dàng làm phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và phương tiện tư duy của con người. Ngôn ngữ mang những bản chất và chức năng cơ bản sau: Thứ nhất, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội. Ngôn ngữ, hiển nhiên, không phải là một hiện tượng tự nhiên, hay hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội. Điều đó được biểu hiện qua các phương diện sau: Ngôn ngữ nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người và phụ thuộc vào xã hội loài người, phục vụ cho nhu cầu (cũng mang tính xã hội) của loài người.
Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn tiếp thu các yếu tố mới để ngày càng thêm phong phú và hoàn thiện. Ngôn ngữ mang bản sắc của từng cộng đồng xã hội. Cộng đồng lớn là các dân tộc, các cộng đồng nhỏ là cộng đồng địa phương hay cộng đồng nghề nghiệp. Bản sắc dân tộc in đậm trong các bình diện của ngôn ngữ: ngữ âm, từ.
vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, Ngôn ngữ phục vụ cho toàn thể xã hội, là công cụ chung của xã hội, là “tài sản vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc” (Hồ Chí Minh). Không có ngôn ngữ riêng của từng cá nhân. Ngoài chức năng phục vụ xã hội, ngôn ngữ còn là phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, là phương tiện giúp con người hiểu biết lẫn nhau trên mọi lĩnh vực trong xã hội. Ngoài ra, ngôn ngữ còn là một hiện tượng xã hội đặc biệt.
Nó không thuộc về cơ sở hạ tẳng, kiến trúc thượng tằng, cũng không phải là công sản xuất; ngôn ngữ cũng không mang tính giai cấp. Thứ hai, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yêu nhất của con là hoạt động truyền đạt, trao đổi thông tỉn. Phương tiện giao có rất nhiều loại: phương tiện giao tiếp của con ngưi và phương tiện giao tiếp của loài vật, phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ. Riêng con người dùng nhiều loại phương tiện giao.
ép khác nhau như đèn giao thông, cử chỉ, tiếng chuông báo hiệu. nhưng không có phương tiện nào quan trọng như ngôn ngữ. Đặc điểm này của ngôn ngữ. được xem xét ở các phương diện sau: Xết về mặt lịch sử thì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có lịch sử lâu đời nhất.
Ngôn ngữ ra đời cùng với con người, cùng với xã hội loài ngưi. Và từ đó đến nay, nó luôn luôn là phương tiện giao tiếp của con người. Với ngôn ngữ, con người có thể giao tiếp với nhau qua các thời đại cách xa nhau hàng, ngàn thế kỉ. Các phương tiện giao tiếp khác ra đờ muộn hơn, thậm chí mới xuất hiện gần đây (các biển chỉ đường, hình vẽ trong ngành giao thông, các tín higu di báo, các mã hiệu trong quân sự.
Xét về mặt không gian và phạm vi hoạt động: ngôn ngữ phục vụ cho việc giao tiếp của con người ở khắp mọi nơi, ở tắt cả các lĩnh vực hoạt động của con người, ở tắt cả các nghề nghiệp, tất cả các lứa tuổi, các thế hệ. Các phương tiện giao tiếp khác có phạm vi hoạt động hạn chế hơn. Xét về mặt khả năng: ngôn ngữ giúp cho con người giao tiếp với nhau. và trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm với các sắc thái tỉnh vi, tế nhị Có thể nói, không một nội dung nào mà ngôn ngữ không truyền đạt nồi, ngay cả các sắc thái tình cảm sâu kín và tế nhị nhất.
Các phương tiện giao tiếp khác có khả năng hạn chế hơn rất nhiều. Chẳng hạn, các biên chỉ đường hay các biển vẽ trong giao thông chỉ có thể thông báo cho người đi trên đường biết được đặc `m cần lưu ý trên đường, chứ không thể bộc lộ được tình cảm, thái độ con người. Hay cả âm nhạc lẫn nghệ thuật tạo hình đều không thể truyền đạt được những tư tưởng tình cảm chính xác, rõ ràng và hoàn toàn xác định. Vì vậy, không thể dùng chúng làm phương tiện thay cho ngôn ngữ.
Chính khả năng to lớn đó của ngôn ngữ cho ta thấy phạm vi sử dụng rộng rãi của nó. Ngôn ngữ được dùng trong sinh hoạt hằng ngày, trong văn học nghệ thuật, trong khoa học kĩ thuật, chính trị, ngoại giao, quân sự. cũng như những nhận thức, tư tưởng. những kinh nghiệm sống và hoạt động, những tình cảm và thái độ của tổ tiên và các thế hệ đã qua đều được lưu trữ và truyền đến ngày nay nhờ ngôn ngữ.
Trong tắt cả các phương tiện mà con người dùng. để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp vạn năng và là phương tiện iao tiếp duy nhất thoả mãn được tắt cả các nhu cầu của con người. Thứ ba, ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của nó.
Chức năng thể hiện. tư duy của ngôn ngữ biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Không có từ nào, câu nào mà lại không biểu hiện. khái niệm hay tư tưởng.
Ngược lại, không có ý nghĩ, tư tưởng nào không tổn tại dưới dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng. Thứ hai, ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ.
Như thế, ngôn ngữ là một công cụ của nhận thức, tư duy, gắn bó mật thiết với hoạt động nhận thức - tư duy và v những sản phẩm của hoạt đông này. Đó là hai phương diện có tính thống nhất cao nhưng hoàn toàn không đồng nhất. Cuối cùng, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt. Ngôn ngữ là sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện.
Hai mặt này không bao giờ tách nhau nhưng lại có quan hệ võ đoán với nhau, mặt biểu hiện của ngôn ngữ. mang tính hình tuyến. Ngay từ đầu, ngôn ngữ đã đồng thời là tín hiệu, mang. ban chat tín hiệu.
Chính bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, với tắt cả những đặc trưng riêng biệt và tính phức tạp trong hệ thống tổ chức của mình, là một nhân. tố trung tâm bảo đảm nó trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. ngôn ngữ được hiểu là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người. Ngôn ngữ cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Khái quát v giao tiếp Khái niệm về giao tiếp được định nghĩa như sau: Giao riếp là quá trình trao đổi thông tin giữa ít nhất là hai chủ thể, nhằm một mục đích nhất định, sẵn với ngữ cảnh giao tiếp và bằng một phương tiện giao tiếp chung. “Thông thường, giao tiếp phải trải qua ba trạng thái: trao đổi thông tin, xúc tâm lí êu biết lẫn nhau; tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Đặc điễm của ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống xã hội 1. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp Trải qua rất nhiều thời kì.
ngôn ngữ luôn vận động và biến đổi - một đặc tinh quan trong va cố hữu của ngôn ngữ. Tiếng Việt cũng đã có sự vận động, biến đổi theo quy luật phát triển của nó và theo nhu cầu của người sử dụng. Tuy nhiên, cùng với quá tình hình thành và phát triển của ngôn ngữ dân tộc, có vài vấn đề cần lưu ý. Đó là: mối quan hệ của ngôn ngữ và các phương ngữ, sự hình thành ngôn ngữ văn hóa, quy luật phát triển của ngôn ngữ và về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ.
Mối quan hệ của ngôn ngữ dân tộc và các phương ngữ. Ngôn ngữ dân tộc được xây dựng trên cơ sở của một phương ngữ (thường là phương ngữ ở vùng trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hóa) hoặc được xây dựng trên cơ sở. tổng hòa có chọn lọc từ các phương ngữ khác nhau. Sự hình thành ngôn ngữ dân tộc thông nhất vẫn không phủ nhận sự tồn tại của các phương ngữ.
cả trong thời kì hiện nay, khi đã có sự giao lưu rộng rãi trong một quốc gia hay giữa các quốc gia vẫn có phương ngữ tồn tại trong lòng một ngôn ngữ. Sự hình thành ngôn ngữ văn hóa. Ngôn ngữ văn hóa được hình thành dựa trên sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Đó là thứ ngôn ngữ được trau dổi, tỉnh luyện và đạt đến những chuẩn mực xã hội, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, văn hóa, văn học nghệ thuật, khoa học, quản lí nhà nước, ngoại giao.
Nhưng đó không phải là thứ ngôn ngữ xa lạ với toàn dân, cách li khỏi ngôn ngữ dân tộc, mà chính là ngôn ngữ đân tộc được nâng lên mức chuẩn mực, trong sing. Quy luật phát triển của ngôn ngữ.