Chương 1 (50 trang) trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về tác động dịch vụ logistics đến hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) của các doanh nghiệp sản xuất (DNSX); Chương 2 (61 trang), phân tích tác động dịch vụ logistics đến hiệu quả HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Chương 3 (37 trang) đề xuất phương hướng và giải pháp về dịch vụ logistics nhằm nâng cao hiệu quả HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Kết luận, danh mục công trình nghiên cứu và tài liệu tham khảo (từ trang 160-169). Để luận giải và minh chứng các vấn đề nghiên cứu, luận án sử dụng 19 bảng, 25 biểu đồ, 02 hình và 09 sơ đồ; đồng thời các dữ liệu thứ cấp và kết quả xử lý số liệu sơ cấp được trình bày trong 05 phụ lục kèm theo. Các kết quả chính đạt được của luận án: (i) Luận giải cơ sở lý luận về dịch vụ logistics với HĐKD của các DNSX trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ; (ii) Nghiên cứu và đề xuất mô hình các yếu tố cơ bản của dịch vụ logistics tác động đến hiệu quả HĐKD của các DNSX; (iii) Những kết luận cả mặt định tính và định lượng về tác động dịch vụ logistics đến hiệu quả HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; (iv) Đề xuất phương hướng và các giải pháp về dịch vụ logistics nhằm nâng cao hiệu quả HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình một số cùng với kiến nghị về tạo lập môi trường và điều kiện để thực hiện mục tiêu của giải pháp đề ra. Lý do chọn đề tài Qua gần 30 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó sự đổi mới về quan điểm và chính sách kinh tế làm chuyển biến tích cực và mạnh mẽ đối với thị trường hàng hóa, dịch vụ.
Cùng với cả nước, kinh tế Quảng Bình liên tục tăng trưởng và có chất lượng phát triển khả quan, chủ động ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh như xây dựng, giao thông vận tải, thương mại, các dịch vụ kho hàng, dịch vụ hải quan, dịch vụ phân phối,. Các loại hình dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ logistics đã từng bước phát triển, ngày càng phong phú và đa dạng [8]. Dịch vụ logistics giữ vai trò quan trọng, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm giải quyết tối ưu cả đầu vào lẫn đầu ra cho mỗi doanh nghiệp [8],[11],[15]. Vì thế, dịch vụ logistics sẽ có tác động rất tích cực đến HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
2 Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ "Lô-gi-stic" [25]. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang thực hiện các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ (từ năm 2013 với ASEAN, từ năm 2014 với WTO) cho 10/11 phân ngành dịch vụ thì việc thúc đẩy những tác động tích cực của dịch vụ logistics đến HĐKD được coi là một trong những biện pháp quan trọng để các doanh nghiệp Quảng Bình đạt hiệu quả ngày một cao hơn. Chi phí logistics có một tỷ trọng lớn, chiếm khoảng 21% doanh thu tiêu thụ sản phẩm của DNSX [44].
Tuy vậy, qua khảo sát, nghiên cứu thực tế cho thấy nhiều loại dịch vụ logistics ở trên địa bàn Quảng Bình còn yếu kém, đặc biệt các DNSX có những dịch vụ logistics trên các phương diện quản lý tồn kho, khách hàng, thành phần (logistics đầu vào/đầu ra) và chức năng… chưa thực sự đáp ứng tốt yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế. Điều này làm cho hiệu quả HĐKD và khả năng cạnh tranh của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình vốn đã quá thấp so với các nước trong khu vực và lại càng thấp hơn khi Việt Nam đã chính thức mở thị trường dịch vụ. Do vậy, để thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, nhằm hoàn thành quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đặc biệt thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả HĐKD và khả năng cạnh tranh của các DNSX ở Quảng Bình, việc lựa chọn đề tài: “Tác động dịch vụ logistics đến hiệu quả HĐKD của các DNSX trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” là rất cần thiết, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển các doanh nghiệp hiện nay. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án 3.
Các công trình nghiên cứu ở trong nước Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến logistics như bản chất logistics, hoạt động logistics, dịch vụ logistics, hệ thống logistics, ngành logistics,. và vai trò của nó đối với hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế, có thể tiếp cận các công trình theo các nhóm chính sau: Nghiên cứu về phát triển logistics đã được thực hiện thông qua các công trình tiêu biểu sau đây: Phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á - Bài học đối với Việt Nam 3 (Vũ Thị Quế Anh, 2014), đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề logistics và phát triển logistics, thực trạng phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan và Malaysia, đồng thời đã chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp phát triển logistics ở nước ta trong quá trình hội nhập và phát triển [72]. Phát triển logistics ở Việt Nam hiện nay (Đinh Lê Hải Hà, 2012), đề tài nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn ở góc độ vĩ mô về tổ chức và quản lý các chuỗi cung ứng trong nền kinh tế quốc dân, địa phương, tập đoàn và doanh nghiệp [12]. Phát triển dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế (Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, 2010).
Đề tài đã nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về logistics, dịch vụ logistics trong nền kinh tế quốc dân, thực trạng phát triển dịch vụ logistics và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp vĩ mô và vi mô nhằm phát triển các dịch vụ logistics trong hội nhập và phát triển [68]. Phát triển hệ thống logistics trên hành lang kinh tế Đông-Tây (Trịnh Thị Thu Hương, 2010). Công trình này đã làm rõ hệ thống logistics và vai trò của nó trong khai thác tuyến hành lang Đông - Tây, nghiên cứu các yếu tố cơ bản của hệ thống logistics, gồm: Cơ sở hạ tầng, doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics và thể chế pháp luật, đề xuất chủ yếu các giải pháp phát triển về lĩnh vực vận tải trên EWEC [62].
Về phát triển dịch vụ hậu cầu (Logistics) của Nhật Bản (Lê Tố Hoa, 2012). Trong công trình này, tác giả đã phân tích tình hình, đặc điểm của dịch vụ logistics Nhật Bản và một số kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ logistics của quốc gia phát triển nhất Đông Á này. Từ đó, tác giả đưa ra 3 xu hướng phát triển chính của logistics trên thế giới trong thập niên đầu thế kỷ 21 mà Việt Nam cần quan tâm [21] Nghiên cứu về giải pháp khai thác tiềm năng, cơ hội và ứng dụng logistics: Việt Nam có khá nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics nhưng các doanh nghiệp Việt Nam lại chưa nắm bắt được cơ hội đó để vươn lên. Hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực này vừa yếu lại vừa thiếu chuyên nghiệp và hầu như chưa có các doanh nghiệp trong nước nào là doanh nghiệp logistics đúng nghĩa.
Để chỉ ra các hạn chế và khuyến nghị Việt Nam khai thác, phát huy các cơ hội và tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics đã có một số công trình nghiên cứu, cụ thể sau: Giải pháp phát triển hệ thống trung tâm logistics Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế nước ta (Trần Sĩ Lâm, 2012). Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của trung tâm logistics, quyết định sự vận hành hiệu quả của hệ 4 thống logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngành kinh tế, thực trạng phát triển còn hạn chế của hệ thống trung tâm logistics của nước ta. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển hệ thống trung tâm logistics Việt Nam trên cơ sở chiến lược phát triển khu vực dịch vụ nước ta đến năm 2020 và kinh nghiệm thành công của một số nước trên thế giới. Giải pháp tăng cường chức năng logistics cho hệ thống cảng biển Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Hà, Từ Quang Phương, 2012).
Nội dung bài báo chỉ rõ, Việt Nam nên phải chớp lấy cơ hội đầu tư để phát huy hết tiềm năng và lợi thế về cảng biển. Vấn đề quan trọng nhất để phát triển mạnh về cảng biển là những cảng đó phải được đầu tư bài bản, kết nối thông suốt và áp dụng được logistics, logistics là một một trong ba chức năng quan trọng, rất cần thiết không thể tách rời khỏi cảng biển. Chính việc chưa quan tâm đúng mức chức năng logistics để đầu tư đã làm giảm sức hấp dẫn của cảng biển Việt Nam. Vì thế, hoạch định cảng biển không bao giờ tách khỏi hoạt động logistics, bởi chính logistics làm giảm chi phí phân phối của các nhà sản xuất.
Tác giả khẳng định, ở bất cứ đâu, khi sản xuất công nghiệp phát triển, cảng biển hình thành thì hoạt động logistics phải có [35]. Logistics - Một hình thức dịch vụ cần được đẩy mạnh ở Việt Nam (Nguyễn Quốc Luật, Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2013). Tác giả làm rõ ý nghĩa quan trọng của logistics trong việc tạo nên lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa được các doanh nghiệp trong nước chưa có sự chuẩn bị tốt về tiềm lực, nhân lực và kinh nghiệm và chưa khai thác hết tiềm năng. Mấy năm gần đây, thị trường logistics đã có bước phát triển nhanh với hơn 900 doanh nghiệp đang hoạt động, đã có nhiều khởi sắc và kỳ vọng [42].
Tác giả đã tập trung phân tích những tiềm năng, dẫn chứng những khởi sắc và gợi ý một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động này ở Việt Nam.