CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Các vấn đề liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau. Các vấn đề về quy hoạch, tổ chức lãnh thổ, phân tích thực trạng quy hoạch, lựa chọn vị trí đặt KCN từ đó đưa ra các giải pháp về quy hoạch khu công nghiệp nhằm phát triển KCN tại Việt Nam được đề cập trong các nghiên cứu điển hình như Phạm Đình Tuyển (2001), Nguyễn Xuân Hinh (2003), Nguyễn Cao Lãnh (2009). Các nghiên cứu này đã phân tích các luận cứ khoa học và thực tiễn về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, phát triển KCN, quy hoạch phát triển KCN, tổ chức lãnh thổ KCN từ đó đưa ra đề xuất hỗ trợ cho quá trình lựa chọn vị trí của KCN.
Tác giả Nguyễn Đình Thu (2005) đi sâu phân tích giải pháp đầu tư nhằm tăng tính liên kết giữa khu chức năng ở, công cộng và sản xuất trong quy trình quy hoạch xây dựng các KCN tại Hà Nội. Vấn đề về quy hoạch KCN những năm gần đây được các nhà nghiên cứu phân tích theo hướng quy hoạch phát triển KCN bền vững, KCN xanh, KCN sinh thái như nghiên cứu của Nguyễn Cao Lãnh (2009) đã trình bày về quy hoạch phát triển mạng lưới, quy mô, giải pháp thiết kế, quy hoạch xây dựng KCN theo hướng sinh thái; đề xuất các giải pháp nhằm quy hoạch xây dựng KCN Việt Nam theo hướng KCN sinh thái. Nhóm nghiên cứu về thực trạng phát triển, phát triển bền vững KCN của Việt Nam đã phân tích chi tiết hiện trạng phát triển của các KCN ở Việt Nam và các địa phương. Đồng thời các tác giả đưa ra đánh giá về mặt được và chưa được của quá trình phát triển KCN những định hướng cho các nhà hoạch định chính sách phát triển các KCN bền vững và các giải pháp nhằm phát triển bền vững KCN đều được các giả đưa ra rất phong phú và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Có thể kể đến các công trình cụ thể như: Nguyễn Chơn Trung, Trương Giang Long (2004), Trần Ngọc Hưng (2004), Vũ Thành Hưởng (2010), Phan Mạnh Cường (2015). Trước đó, nghiên cứu của Word Bank (1992) đã phân tích, đánh giá tình hình hoạt động và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các KCX, KCN. Một số nghiên cứu khác đi sâu vào phân tích tác động của các cơ chế, chính sách phát triển các KCN trên cả nước đến sự phát triển bền vững của các KCN. Thông qua phân tích những tồn tại trong thực tiễn áp dụng ở các địa phương như: tình trạng thành lập nhiều KCN tại những địa bàn chưa được chuẩn bị kỹ về mặt bằng, vấn đề cạnh tranh không lành mạnh về thu hút giữa các địa phương, vấn đề quản lý ô nhiễm 8 môi trường, ảnh hưởng của chính sách đến phát triển KCN.
Các tác giả đề xuất các khuyến nghị thay đổi, hoàn thiện một số chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển các KCN bền vững như đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống thể chế KCN, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với KCN. Các nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như: Chế Đình Hoàng (1996), Lê Tuyển Cử (2004), Ngô Thắng Lợi và cộng sự (2006); Vũ Thành Hưởng (2010). Nhiều nhà nghiên cứu về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN như Nguyễn Ngọc Dũng (2010), Trần Ngọc Hưng (2004), Nguyễn Đình Trung (2012). Nguyễn Ngọc Dũng (2010) đã phân tích thực trạng và đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá tính đồng bộ, chỉ rõ khả năng phát triển đồng bộ KCN của Hà Nội.
Tác giả cũng đã tập trung vào nghiên cứu sự đồng bộ giữa đầu tư, hiệu quả thu hút đầu tư với hoàn thiện kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài hàng rào KCN. Trên cơ sở các kiến nghị về những quan điểm, giải pháp phát triển KCN đồng bộ trên địa bàn Hà Nội, tác giả đã đề xuất thí điểm áp dụng một KCN đồng bộ. Một số tác giả đi sâu nghiên cứu về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN như Đinh Hữu Quý (2005). Trần Ngọc Hưng (2006) đi sâu phân tích nội dung về đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường và xử lý chất thải trong KCN.
Tác giả đã phân tích về các nội dung đầu tư hoạt động bảo vệ môi trường trong các KCN như đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải, đấu nối hệ thống của nhà máy với hệ thống xử lý chất thải chung của KCN. Nghiên cứu đến vấn đề đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng xã hội cũng như tác động xã hội của phát triển KCN qua đó đề xuất các giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh cùng với đầu tư và phát triển các KCN cũng được nhiều tác giả quan tâm có thể kể đến như: Trần Viết Tiến (2008), Lê Xuân Bá (2007), Hoàng Hà và cộng sự (2009), Trần Ngọc Hưng (2009). Các tác giả này đi sâu vào các nội dung của hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng xã hội như vấn đề việc làm, nhà ở, các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động trong các KCN và đưa ra những đánh giá, kiến nghị và giải pháp để giải quyết tốt vấn đề này trong phát triển các KCN. Như vậy, đã có nhiều nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN ở Việt Nam và các địa phương.
Các nghiên cứu này ở Việt Nam thường chỉ dừng lại về phân tích, đánh giá, so sánh và ra các giải pháp, kiến nghị mà chưa sử dụng nhiều các phương pháp định lượng. Các nghiên cứu này đã đưa ra các đề xuất, giải pháp hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách liên quan nhằm hoàn thiện hoạt động đầu tư phát triển KCN, thu hút đầu tư và phát triển bền vững các KCN. Bên cạnh đó chưa có nghiên cứu nào liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN trên địa bàn tỉnh Bình Định. Nghiên cứu liên quan đến thu hút đầu tư vào khu công nghiệp 1.
Nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào khu công nghiệp Có nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư nói chung và thu hút đầu tư vào KCN nói riêng ở trong và ngoài nước. Ở cách tiếp cận chi phí, Badri (1996) đã thu thập dữ liệu của tổng cộng 2125 CEO của các công ty ở 23 quốc gia trên toàn thế giới và dùng phương pháp phân tích nhân tố để thực hiện nghiên cứu để chỉ ra những nhân tố chủ yếu tác động tới lựa chọn vị trí công nghiệp của các nhà đầu tư này là kết cấu hạ tầng giao thông, lao động, nguyên vật liệu, thị trường, cụm công nghiệp, hỗ trợ và quản lý của chính phủ, thuế, khí hậu và cộng đồng xã hội. Ngoài ra, để lựa chọn vị trí đầu tư ra nước ngoài, bốn yếu tố chung được xác định: tình hình chính trị của quốc gia được đầu tư, khả năng cạnh tranh toàn cầu, các quy định của chính phủ và các yếu tố kinh tế. Nghiên cứu của Porter (2000) về lợi thế cạnh tranh, địa điểm đầu tư, các tổ hợp công nghiệp/ngành nghề và chiến lược công ty đã đưa ra một cách tiếp cận động về các động cơ quyết định đầu tư, nêu bật vai trò của các tổ hợp công nghiệp/ngành nghề trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời phân tích vai trò của các địa điểm đầu tư trong quá trình hình thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Xuất phát từ hai động cơ này, đa số dòng FDI vào các nước phát triển là để khai thác thị trường tại chỗ, còn dòng FDI vào các nền kinh tế đang phát triển là để tiết giảm chi phí đầu vào sản xuất. Khoảng cách và quy mô thị trường là 2 nhân tố cực kỳ quan trọng để các nhà đầu tư quốc tế lựa chọn địa điểm đầu tư. Đặc điểm của các FDI liên kết ngang là tìm kiếm điều kiện tiếp cận thị trường nước nhận đầu tư rộng mở hơn, thay vì xuất khẩu trực tiếp hàng hoá sang thị trường đó, do vậy các công ty sẽ cân nhắc giữa các chi phí cố định để xây dựng cơ sở sản xuất tại địa điểm nước ngoài với các chi phí tiết giảm được. Bên cạnh đó, các công ty cũng phải tính tới các chi phí phát sinh khi vận hành tại nước nhận đầu tư như chi phí liên quan tới thủ tục hành chính, các sắc thuế áp dụng và sự điều chỉnh chính sách.
Rõ ràng, quốc gia nào tạo được một môi trường đầu tư kinh doanh với chi phí giao dịch tối ưu nhất sẽ có lợi thế cạnh tranh 10 thu hút FDI toàn cầu. Chính vì vậy, theo quan điểm này ta có thể thấy hoạt động đầu tư phát triển các KCN tại các nước đang phát triển sẽ tạo ra những ưu thế nổi trội về chi phí và chính sách để hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Ở góc độ marketing địa phương, các nhà nghiên cứu xem môi trường đầu tư là một hàng hóa dịch vụ. Các thị trường mục tiêu của hàng hóa đặc biệt này hướng đến có thể là khách du lịch, thị trường xuất khẩu, nhà sản xuất, nhà đầu tư, và các doanh nghiệp địa phương và quốc tế (Kotler và cộng sự, 1993).
Trong số các khách hàng đó, các nhà đầu tư có lẽ là một mục tiêu quan trọng cho mọi nơi, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển. Một số nghiên cứu về thăm dò môi trường đầu tư cho rằng địa phương nên có một số địa điểm phát triển trọng điểm để kích thích dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như để tạo ra một mức độ cao của sự hài lòng của nhà đầu tư, đặc biệt là ở các nước đang phát triển (Nguyen Nhu Binh, Haughton (2002)) do FDI tạo ra nhiều lợi ích cho các địa phương và quốc gia. Và một trong những địa điểm trong tâm được các tác giả trên đề cập đến đó chính là phát triển mô hình CCN - KCN. Porter và cộng sự (2008) cũng cho rằng địa phương cần xây dựng, hoàn thiện môi trường đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương và hấp dẫn các nhà đầu tư, khách du lịch.