Chương 1 trình bày tông quan về TTCK Việt Nam, nghiên cứu về đại dịch COVID-19 và cơ sở lý luận về các lý thuyết hành vi của nhà đầu tư khi giao dịch trên TTCK. Giả thiết đại dịch có tác ng mạnh mẽ tới thị trường tài chính nói chung và TTCK Việt Nam nói riêng. Cùng với đó là hệ thống lại các đề tài liên quan để đưa ra khoảng trống nghiên cứu 1.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển Bắt đầu từ ngày 28/11/1996, UBCKNN Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ. Vào ngày 11/7/1998, TTCK Việt Nam đã chính thức ra đời theo Nghị định số 48/CP của Chính phủ.
Cùng lúc đó, Chính Phủ cũng ban hành quyết định về việc thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (sau này đổi tên thành Tổng Công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam). Ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên của TTCK Việt Nam diễn ra với hai mã cô phiếu là REE và SAM được niêm yết trên Sở GDCK TP HCM. Tại thời điểm này, mỗi tuần sẽ có 2 phiên giao dịch diễn ra. HoSE chính thức khai trương hoạt động vào ngày 20/7/2000, sau 5 năm, HNX đi vào hoạt động ngày 08/3/2005.
Tính đến thời điểm hiện tại, TTCK áp dụng theo Luật Chứng khoán năm 2019 số 54/2019/QH14, quy định các hoạt động về chứng khoán và TTCK; quyền và nghĩa vụ của tô chức, cá nhân trong lĩnh vực chứng khoán; tổ chức TTCK; quản lý nhà nước. về chứng khoán và TTCK. TTCK theo Luật chứng khoán Việt Nam (2019) được định nghĩa như một nền tảng cho các giao dịch, mua bán, và trao đổi các loại chứng khoán được xác định trước. TTCK thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư, trong đó giá chứng khoán phản ánh thông tin liên quan đến chỉ phí vốn và giá trị của vốn đầu tư.
TTCK đóng vai trò quan trọng trong hấp dẫn và cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, đồng thời thúc đây sự phát triển kinh tế. Ngoài ra, TTCK còn cung cấp cơ hội đầu tư và đảm bảo tính minh bach và công bằng trong việc giao dịch chứng khoán, tạo nên một hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.2 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán © Tổ chức phát hành: Là các công ty hay tô chức cần vốn và huy động vốn thông qua TTCK. Các công ty hay tô chức này sẽ cung cấp sản phim của mình ra thị trường và đính kèm theo đó là thông tin về chứng khoán. Các tổ chức phát hành chứng.
khoán bao gồm: Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương; công ty muốn huy động vốn; công ty quản lý quỹ đầu tư. © Nhà đầu tư: ~ NT cá nhân: là những cá nhân đơn lẻ, tham gia mua bán trên thị trường nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Các NĐT cá nhân được coi là NĐT “không chuyên”. Trong khi đó, NĐT chứng khoán chuyên nghiệp là những chuyên gia có năng lực tài chính hoặc có trình độ.
chuyên môn về chứng khoán. Họ thường có chứng chỉ hành nghề chứng khoán hoặc năm. giữ danh mục đầu tư ít nhất 2 tỷ đồng theo quy định cụ thề. - NÐT tổ chức: là công ty tài chính, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội hoặc ngân hàng thương mại.
Đối tượng này thường sở hữu lượng vốn lớn cùng đội ngũ chuyên viên tài chính giảu kinh nghiệm, thường xuyên thực hiện các giao dịch chứng khoán nhằm đem lại lợi nhuận hoặc phục vụ mục đích dự phòng cho hoạt động kinh doanh chính. ©_ Các tổ chức kinh doanh trên TTCK: Công ty chứng khoán; Trung gian tải chính; Quỹ đầu tư chứng khoán ©_ Các tổ chức liên quan đến chứng khoán: Cơ quan quản lý nhà nước: Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước; Sở giao dịch chứng khoán; Hiệp hội kinh doanh chứng khoán; Tổng công ty lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán (VSD); Công ty cung. cấp dịch vụ công nghệ, hệ thống giao dịch; Các tổ chức tài trợ chứng khoán; Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm.3 Phân loạihị trường ©_ Căn cứ vào phương thức hoạt động: ~ TTCK tập trung: Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở GDCK. Tại đây, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sản giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.
~ TTCK phi tập trung: còn gọi là thị trường OTC (over-the-counter), các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá được hình thành theo phương thức thoả thuận. ©_ Căn cứ vào hàng hóa trên thị trường: - Thị trường cô phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cô phiếu, bao. gồm cô phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi.
Trong đó, cô phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cô phần của tô chức phát hành; chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của NĐT đối với một phần vốn góp của quỹ đầu tư chứng khoán (Luật chứng khoán 2019). - Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại trai phié đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu chính phủ (Luật chứng khoán 2019). - Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua di bán lại các chứng từ tài chính khác như quyền mua cô phiếu, chứng quyền, hợp đồng.4 Chức năng của thị trường chứng khoán Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của TTCK đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Cụ thê, cần xem xét một số chức năng then chốt mà TTCK mang lại: - Cưng cắp môi trường đầu tư cho các NĐT cá nhân: TTCK tạo ra một môi trường đầu tư lành mạnh và đa dạng cho công chúng.
Các loại chứng khoán trên thị trường khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép NĐT có thể lựa chọn loại hàng hoá phủ hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. 11 ~ Huy động vốn đâu tư cho nền kinh tế: TTCK giúp công ty huy động vốn thông. qua việc phát hành cổ phiếu. Nhờ đó, vốn nhàn rỗi của NĐT được đưa vào các hoạt động.
sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần mở rộng sản xuất và phát triên kinh tế xã hội. - Tạo tính thanh khoản: TTCK cung cấp sự linh hoạt cho NĐT. Họ có thé chuyển đôi chứng khoán thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác theo nhu cầu và điều kiện thị trường. TTCK hoạt động cảng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường cảng cao.
~ Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: TTCK phản ánh một phần hoạt động của công ty đại chúng một cách tông hợp và đầy đủ thông tin, hỗ trợ quá trình đánh giá và so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh. Quy định về việc công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích đầu tư. - Hỗ trợ Chính phủ trong việc thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô: Qua việc quan sát và phân tích các biến động trên TTCK, Chính phủ có thể đánh giá mức độ phát triển và sức khỏe của nền kinh tế. Những chỉ số và xu hướng trên TTCK cung cấp thông tin quan trọng về hoạt động đầu tư, tình hình tài chính của các doanh nghiệp, và cả sự tham gia của các NĐT.
Điều này giúp Chính phủ đưa ra các quyết định và điều chỉnh chính sách vĩ mô nhằm duy trì ôn định kinh tế, kiểm soát lạm phát, và đảm. bảo sự cân đối trong phát triển kinh tế quốc gia.5 Tác động của các yếu tố kinh tế vĩ lôtới thị trường chứng khoán Kinh tế vĩ mô là một lĩnh vực trong kinh tế nghiên cứu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô lớn của nền kinh tế. Nó tập trung vào các chỉ số và biến đổi chung của một quốc gia hoặc khu vực, như tông sản phẩm quốc nội (GDP), tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái. TTCK là một chủ thể chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm các nhân tố kinh tế vĩ mô và vi mô.
- Lam phát: Khi lạm phát tăng, lãi suất cũng tăng dé đảm bảo lãi suất thực dương. Điều này làm cho TTCK trở nên kém hấp dẫn hơn so với các kênh đầu tư khác như tiền gửi tiết kiệm. Việc tăng lãi suất làm tăng lượng cung cổ phiếu, gây áp lực giảm giá trên thị trường. 12 - Lãi suất: Lãi suất cho vay tại VN thường tăng khi xảy ra lạm phát do chính phủ thất chặt tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát.
Ngoài ra, hiện tượng tâm lý đầu tư theo bẩy đàn và tâm lý chỉ phối hành vi của NĐT trên TTCK khá mạnh mẽ càng khiến cho chỉ số giá chứng khoán sụt giảm khi có các tín hiệu về bất ôn kinh tế vĩ mô như lãi suất tăng. Khi lãi suất giảm, tác động đến TTCK là tích cực. Các doanh nghiệp có cơ hội huy động vốn với chỉ phí thấp hơn, từ đó thúc đây các hoạt động đầu tư và phát triển. Các NĐT cũng có xu hướng chuyển đôi từ các tài sản có lãi suất thấp sang.
TTCK, góp phần thúc đầy sự tăng trưởng và tính thanh khoản của thị trường. ~ Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là mức đôi quy đôi giữa hai đồng tiền, trong đó một đồng tiền được quy đồi thành đồng tiền khác với một tỷ lệ số định. Khi tỷ giá giữa đồng Việt Nam đặc biệt là USD/VNĐ tăng, sẽ ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp có nợ nước ngoài hoặc phải nhập khẩu nguyên liệu chính từ nước ngoải và chủ yếu phục vụ thị trường nội địa. Những doanh nghiệp này phải đối mặt với việc cân nhắc giá bán sản phẩm sao cho đủ đề bù đắp chỉ phí nhập khâu và đồng thời duy trì thị phần và doanh thu.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đặc biệt chú trọng. vào chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tỷ giá càng có tác động mạnh đến chỉ số giá chứng khoán Việt Nam trong dài hạn.2 Thị trường cỗ phiếu Thị trường cô phiếu được coi là một trong những kênh đầu tư dễ tiếp cận nhất đối với NDT cá nhân trên TTCK Việt Nam. Cổ phiếu cung cấp một lựa chọn đầu tư linh hoạt cho các NĐT.