Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm Chương 2: Phân tích chính sách học phí trong đào tạo và quản lý đào tạo cử nhân sư phạm Chương 3: Xây d ng & kiểm định mô hình tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm Chương 4: Phân tích tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH HỌC PHÍ ĐẾN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN SƢ PHẠM 1. Tổng quan nghiên c u vấn đề tác động của ch nh sách học ph đến quản lý đào tạo cử nhân sƣ phạm Ngày nay, sự bùng nổ mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ, của trí tuệ nhân tạo mang đến thách thức mới không chỉ cho xã hội mà còn tác động trực tiếp tới giáo dục. Bên cạnh những thành tựu mà giáo dục và đào tạo đã đạt được thì vẫn còn nhiều vấn đề rất đáng quan tâm: Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng: Học phí có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố là nền tảng chi phối phần lớn ba chủ đề bao quát về chính sách Giáo dục đại học hiện đại: chất lượng (hay mối quan hệ giữa việc chi phí và chất lượng ở bất cứ khía cạnh nào của nó), s nhập học (hay việc tìm kiếm công bằng xã hội ở những người được hưởng lợi ích và những người phải chi trả cho GDĐH), và hiệu quả (hay việc tìm kiếm một mối quan hệ về hiệu suất giữa các nguồn thu nhập và các sản phẩm đầu ra). Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, áp lực về tài chính cho giáo dục đã tăng lên ở hầu hết các nước trên thế giới. Việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư mà giáo dục có được sẽ giúp những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý giáo dục tìm ra cho các cơ sở giáo dục lời giải, với điều kiện khung chính sách cho các hoạt động phải được cải cách một cách cơ bản. Nghiên cứu về tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm thì cần tìm hiểu bao quát ở nhiều khía cạnh.
Tổng quan những nghiên cứu liên quan tới đề tài: “Tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm”, tác giả xin trình bày ở 3 phần: Nghiên cứu về đào tạo cử nhân sư phạm và quản lý đào tạo cử nhân sư phạm; Nghiên cứu về các chính sách học phí trong quản lý đào tạo cử nhân sư phạm; Nghiên cứu về tác động của chính sách học phí đến quản lý đào tạo cử nhân sư phạm. Nghiên cứu về đào tạo cử nhân sư phạm và quản lý đào tạo cử nhân sư phạm 1.1 Trên thế giới Bài viết: “Singapore: Một mô hình đào tạo giáo viên đáng học tập” tại Hội thảo khoa học quốc tế: “Kinh nghiệm của Malaysia và Singapore về đào tạo – bồi dưỡng giáo viên phổ thông, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục phổ thông và giảng viên sư phạm” được tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 12 năm 2017 [66]. Trong bài viết, tác giả phân tích các lý do khiến Singapore mặc dù là một quốc đảo bé nhỏ về địa lý nhưng lại được thế giới ngưỡng mộ về tầm nhìn giáo dục, trong đó có đào tạo giáo viên. Từ cách tuyển chọn giáo sinh đến chương trình đào tạo và phát triển ngành sư phạm.
Tại đây, hệ thống trường học bao gồm các trường công lập, tư thục và quốc tế. Hệ thống các trường công lập của Singapore có danh tiếng về chất lượng giảng dạy và học tập. Giáo dục tại Singapore. Từ bậc Tiểu học đến Trung học, Đại học công lập đều được nhà nước hỗ trợ về tài chính.
Bộ giáo dục trực tiếp điều hành các trường công lập nhận tài trợ về tài chính của Chính phủ, đồng thời có vai trò tư vấn và quản lý các trường tư thục. Đối với quốc gia này, giáo viên và dạy học là nghề được kính trọng. Chính vì vậy, Chính phủ có những ưu đãi, đặc biệt đối với việc đào tạo giáo viên tại đây. Hằng năm, đất nước này tính toán số lượng giáo viên cần thiết và đặt chỉ tiêu thích hợp cho chương trình đào tạo sư phạm.
Cơ sở duy nhất đào tạo giáo viên ở Singapore là Viện Giáo dục Quốc gia (NIE) nằm trong Đại học công nghệ Nanyang (NTU) – Một trong những trường đại học uy tín của cả nước. Bài viết đã trình bày các nội dung liên quan đến đào tạo giáo viên của đất nước Singapore từ các mảng: Chương trình đào tạo giáo viên trình độ cử nhân, việc tuyển chọn giáo viên, các chính sách đối với giáo dục, v. trong đó phải kể đến: “Trong quá trình đào tạo tại NIE, các giáo viên tương lai nhận được khoản trợ cấp hàng tháng tương đương 60% lương khởi điểm giáo viên, đồng thời học phí của giáo sinh được Bộ giáo dục chi trả. Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, sinh viên tốt nghiệp phải cam kết làm việc ba năm trong ngành sư phạm.
Lương khởi điểm của giáo viên tùy thuộc bằng cấp được đào tạo. 96] 10 Cũng tại Hội thảo này, rất nhiều các bài viết nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau trong việc đào tạo giáo viên tại Singapore và Malaysia. Tuy nhiên, các bài viết tập trung chủ yếu vào một số vấn đề như: chương trình đào tạo, thực tập sư phạm, phát triển nghề nghiệp cho giáo viên, v. Cuốn sách: “Giới thiệu mô hình đào tạo giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp ở một số quốc gia và bài học kinh nghiệm”, xuất bản tại Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam năm 2012 [41].
Cuốn sách là kết quả của Dự án Phát triển giáo viên trung học phổ thông và trung cấp chuyên nghiệp gồm đội ngũ đông đảo các chuyên gia tư vấn quốc tế và trong nước (bao gồm 20 chuyên gia tư vấn quốc tế và gần 100 chuyên gia tư vấn trong nước). Các báo cáo của các nhóm chuyên gia đã mô tả khá đầy đủ, rõ nét về bức tranh từ quá khứ, hiện tại và cả định hướng sắp tới trong việc đào tạo giáo viên của tám quốc gia. Tiêu biểu là Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên Bang Đức, Vương Quốc Anh, Australia, Nhật Bản, Philippines, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đa số các báo cáo đều nhấn mạnh quan niệm về sứ mệnh cao cả của nghề dạy học và nhà giáo.
Đồng thời, từ những triết lý về đào tạo giáo viên, các báo cáo đã đưa ra một hệ thống các chuẩn trong đào tạo theo hướng phát triển năng lực nghề nghiệp của người giáo viên. Đây cũng chính là những căn cứ để xây dựng, phát triển các chương trình đào tạo giáo viên và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Tuy nhiên, các báo cáo cũng đề cập đến những nét khác biệt, đặc trưng cho truyền thống và điều kiện lịch sử, văn hóa, phát triển của mỗi quốc gia. Ví dụ: Một số chính sách về sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên, những tổ chức đăng ký cấp giấy phép hành nghề dạy học, vấn đề giáo viên tập sự,v.v… Về cơ bản, các báo cáo làm rõ quá trình đào tạo giáo viên ở các quốc 6 theo các lĩnh vực: hệ thống giáo dục, mô hình đào tạo, chương trình đào tạo, tổ chức cấp phép hành nghề,v.v… Duy nhất trong báo cáo về đào tạo giáo viên tại Hoa Kỳ, các tác giả có nhắc đến Ngân quỹ cho các trường học với ví dụ cụ thể ở California và Lương cho giáo viên: “Ở California, chính quyền bang đã đặt ra những điều luật cân đối ngân quỹ cho các trường học để giúp những cộng đồng nghèo có thể nhận được ngân sách ở 11 mức gần tương đương những cộng đồng giàu có.
Sau nhiều tranh cãi, hiện bang California đã thay đổi cách thức cấp ngân sách cho các trường học. Nguồn ngân sách này không còn dựa nhiều vào thuế bất động sản mà dựa nhiều hơn vào các nguồn thu khác: - 13% từ chính quyền liên bang; - 59% từ ngân sách bang dựa vào thuế thu nhập doanh nghiệp, công ty và cá nhân, thuế doanh thu và một số khoản thuế đặc biệt; - 22% từ các khoản thuế bất động sản địa phương; - 6% từ lệ phí xây dựng, các khoản thuế đất, đóng góp phụ huynh, doanh nghiệp, các khoản thuế khác” [41, tr. Bài viết: “Cải cách đào tạo giáo viên như một công cụ để đổi mới hệ thống giáo dục. Cản trở và triển vọng: Liệu văn h a và năng l c c trở thành một cặp bất thành?” báo cáo tại Hội thảo Quốc tế: Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong tiến trình đổi mới giáo dục của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN năm 2009 [62].
Trong bài viết này, tác giả giới thiệu những điểm cơ bản nhất của cuộc cải tổ hệ thống giáo dục, tiếp đó đề cập đến những cản trở nảy sinh trong quá trình thực hiện đổi mới. Đặc biệt, tác giả cũng mô tả những điều kiện cần thiết để một cuộc cải tổ đào tạo giáo viên có tác động hỗ trợ cho sự đổi mới hệ thống giáo dục trong khuôn khổ các Viện đại học đào tạo giáo viên ở Pháp và trong bối cảnh thực hiện đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành. Mười kỹ năng mà tác giả nhắc đến trong hệ thống các kỹ năng mà giáo viên cần phải đào tạo và trở thành chính là những năng lực nghề, là những kỹ năng được thiết lập dựa trên kiến thức, năng lực và thái độ dựa trên khối kiến thức cơ bản chung. Các kỹ năng được trải ra trên nhiều phương diện khác nhau; giáo viên là công chức, là nhà giáo dục, là chuyên gia về chuyên môn, là thành viên của một ekip và trong một trường học, là kỹ thuật viên có khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp hiện đại.
Từ mục tiêu về kỹ năng mà sinh viên cần đạt được sau khi đào tạo, Viện đại học đào tạo giáo viên đã hợp tác nhằm tìm ra những công cụ mới và những logic 12 đào tạo mới.