CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài về nhân tố ảnh hưởng hiệu quả tự chủ tài chính trong điều kiện tự chủ Theo nghiên cứu của tác giả Lioukas et al (1993) về hiệu quả tự chủ trong các ĐVSNCL, với mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tự chủ tài chính tại các ĐVSNCL. Bài nghiên cứu theo 2 khía cạnh, thứ nhất là tự chủ trong các ĐVSNCL và thứ hai là kiểm soát của Nhà nước đối với các đơn vị. Nghiên cứu sử dụng kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính nhằm tổng hợp các nghiên cứu về quyền tự chủ của các ĐVSNCL, nghiên cứu vận dụng lý thuyết xã hội học về phân tầng xã hội của Max Weber (1978), phương pháp định lượng sử dụng hồi qui, bảng khảo sát, kiểm định Alpha Cronbach, hệ số tương quan Bivariate để kiểm tra các loại kiểm soát được áp dụng. Nhóm tác giả đã gửi bảng khảo sát đến 254 ĐVSNCL và kết quả nhận được trả lời phù hợp từ 110 ĐVSNCL tại Hy Lạp.
Nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tự chủ tài chính trong các ĐVSNCL bao gồm: kiểm soát nguồn nhân lực (chính sách tuyển dụng và thuê mướn chuyên gia, quyết định của đơn vị về lương và thưởng, chính sách và hợp đồng tuyển dụng), kiểm soát quản lý (Các chính sách liên quan đến đầu tư, quyết định về quy mô hoạt động), kiểm soát tài chính (kiểm soát nguồn thu và nhiệm vụ chi, phương pháp xác định phân phối thu nhập, kiểm soát việc vay nợ và kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ), kiểm soát về đầu tư và bổ nhiệm (Bổ nhiệm nhân viên quản lý, tình hình đầu tư mua sắm tài sản), kiểm soát đầu ra (Kiểm soát việc hạch toán xác định giá phí hoặc dịch vụ cung cấp) là các nhân tố có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tự chủ tài chính. Trong đó hiệu quả tự chủ tài chính được đo lường bằng hệ số ROA; Chỉ số năng suất (Giá trị tăng thêm/ ( Vốn + Tiền lương + thuê mướn); Các sáng kiến và công trình nghiên cứu. Nghiên cứu Tobias Krause (2014), hướng đến mục tiêu khám phá các nhân tố tác động đến hiệu quả tự chủ tài chính và phi tài chính trong các ĐVSNCL. Nghiên cứu sử dụng kết hợp giữa phương pháp định tính, định lượng và dựa trên lý thuyết trao 6 đổi xã hội.
Trong đó, phương pháp định lượng được thực hiện trong năm 2013 thông qua bảng khảo sát các CEO của 875 đơn vị, kết quả đã nhận được câu trả lời đầy đủ từ 243 doanh nghiệp. Các phương pháp thực nghiệm bao gồm: sử dụng mô hình OLS (Ordinary Least Squares Regression Models), phương pháp Varimax rotation, phương pháp kiểm định KMO, Shapiro- Wilk để trả lời cho câu hỏi là có hay không tác động của 4 nhân tố sau đây đến hiệu quả tự chủ tài chính của các ĐVSNCL: kiểm soát nguồn nhân lực, kiểm soát quản lý, kiểm soát quyết định đầu ra (Phương pháp xác định giá phí dịch vụ), kiểm soát đầu tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểm soát quyết định đầu ra (quyết định giá phí dịch vụ) và kiểm soát nguồn nhân lực ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tự chủ tài chính; Kiểm soát quản lý và kiểm soát đầu tư ảnh hưởng đến ít hơn đến quả tự chủ tài chính. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chỉ tiếp cận nghiên cứu cơ chế tự chủ về khía cạnh quản lý thay vì phân tích về kích tố sản xuất, và theo Tobias Krause cần tìm hiểu sâu hơn về bản chất của các ĐVSNCL vì các khái niệm về tự chủ trong các ĐVSNCL rất đa dạng và hoàn cảnh áp dụng cho mỗi quốc gia là khác nhau.
Theo nghiên cứu của tác giả Mercy Ong'onge and Zachary B Awino (2015), nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả tự chủ tài chính hướng đến việc xếp loại mức độ tự chủ của các ĐVSNCL tại Kenya. Thông qua mẫu nghiên cứu bao gồm 31 ĐVSNCL, với tỉ lệ khảo sát đạt 77%. Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm thống kê mô tả và phương pháp phân tích hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả tự chủ tài chính trong các đơn vị tự chủ tài chính như sau: FP = β 0 + β 1 GOV + β 2 0UT + β 3 SI + β 4 AMR + β 5 HR + β 6 FR + β 7 PD + ε.
Trong đó FP là hiệu quả hoạt động tài chính của tập đoàn được tính bởi chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA); GOV là tỉ lệ sở hữu sở hữu của Nhà nước; OUT là kiểm soát của chính phủ đối với quyết định đầu ra (quyết định về giá bán). SI là sự kiểm soát của chính phủ đối với các vấn đề quản lý (chiến lược, xây dựng chính sách). AMR là sự kiểm soát của chính phủ đối với đầu tư (mua bán và huy động tài nguyên). HR là sự kiểm soát của chính phủ đối với nguồn nhân lực; FR là sự kiểm soát của chính phủ đối với các nguồn lực tài chính.
PD là sự kiểm soát của chính phủ về đặt 7 hàng trong Nhà nước. Mô hình nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố tác động đến hiệu quả tự chủ tài chính của các ĐVSNCL tại Kenya, trong đó, bên cạnh các nhân tố tác động tích cực thì nhân tố tỉ lệ sở hữu Nhà nước (GOV) có tác động tiêu cực đến hiệu quả tự chủ tài chính. Theo nghiên cứu của tác giả Suneeta Sharma and David R. Hotchkiss (2000), với mục tiêu nghiên cứu nhằm hướng đến cải thiện hiệu quả và tính bền vững về tài chính của hệ thống y tế tại Ấn độ.
Nghiên cứu tập trung đánh giá về việc hình thành các tổ chức xã hội cung cấp dịch vụ bổ sung cho các dịch vụ hiện có của đơn vị y tế khu vực công theo mô hình đầu tư liên doanh, liên kết, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các tổ chức xã hội đối với tự chủ của đơn vị hoạt động trong lĩnh vực y tế khu vực công về các mặt: hoạt động, quản lý, và tài chính. Nghiên cứu khảo sát ở 69 đơn vị y tế công tại Rajasthan, kết quả cho thấy các tổ chức xã hội làm tăng đáng kể nguồn tài chính và các chính sách mua sắm của các đơn vị y tế công lập trở nên linh hoạt hơn, công tác quản lý hiệu quả rõ rệt và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế tốt hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực còn có những hạn chế như: chi cho đầu tư thiết bị y tế không hiệu quả, năng lực quản lý của lãnh đạo còn chưa phù hợp với thực tế. Bài viết của tác giả Christophe Lemière et al (2012) về đánh giá cải cách các đơn vị trong lĩnh vực y tế khu vực công tại Senegal trong điều kiện tự chủ, việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị y tế tại Senagal từ năm 2000 đã cải thiện được chất lượng dịch vụ chăm sóc y tế, nhưng hiệu quả tự chủ tài chính lại suy giảm rõ rệt.
Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến việc suy giảm hiệu quả tự chủ tài chính là: thứ nhất các đơn vị y tế đã mất kiểm soát về nhân sự, liên quan đến việc quyết định lương nhân viên, tuyển dụng nhân viên không đủ chuẩn, không công bằng trong phân phối thu nhập, nguyên nhân thứ hai là hệ thống văn bản pháp lý không đầy đủ, không ràng buộc trách nhiệm rõ ràng đối với các bệnh viện được trao quyền tự chủ, nguyên nhân thứ ba là phương pháp xác định giá phí dịch vụ chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực tế. Nghiên cứu của tác giả Aziz Küçük (2018) về cải cách đơn vị trong lĩnh vực y tế khu 8 vực công trong giai đoạn 2012-2017 tại Thổ Nhĩ Kỳ, Chính phủ đã hướng đến việc giảm chi phí ngân sách và sử dụng tài nguyên hiệu quả bằng việc hợp nhất các đơn vị y tế công thành đơn vị tự chủ tài chính, tuy nhiên mô hình này thất bại trong năm 2017, nghiên cứu này đánh giá mô hình hợp nhất các đơn vị y tế trong khu vực công và tìm hiểu các yếu tố cản trở dẫn đến sự thất bại của mô hình này. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng để đạt được mục tiêu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra được yếu tố cản trở thất bại của mô hình hợp nhất các đơn vị y tế là kiểm soát về: chiến lược, mua sắm – đầu tư, nhân sự, tài chính, quản lý.1 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về hiệu quả tự chủ tài chính trong điều kiện tự chủ Phương pháp Nơi công Tên đề Mục tiêu nghiên Tên tác giả bố nghiên Kết quả nghiên cứu tài nghiên cứu cứu cứu Nghiên cứu đã xác định Manageri Mục tiêu của được 5 nhân tố ảnh hưởng al nghiên cứu là đến hiệu quả tự chủ tài Autonom xác định các chính trong điều kiện tự chủ Lioukas và y of State- Phương Organizatio nhân tố ảnh là: kiểm soát nguồn nhân cộng Owned pháp n Science hưởng đến lực (HR), kiểm soát quản sự(1993), Enterprise hỗn hợp hiệu quả tự chủ lý (SI), kiểm soát tài s: tài chính tại chính(FR), kiểm soát về Determini các ĐVSNCL đầu tư và bổ nhiệm (P&A), ng Factors kiểm soát đầu ra (OUT).
Contingen Mục tiêu phân Nghiên cứu xác định được 4 cies of tích khám phá nhân tố ảnh hưởng đến hiệu Tobias factual các nhân tố tác Phương quả tự chủ tài chính trong University Krause managem động đến hiệu pháp điều kiện tự chủ là: kiểm of Potsdam (2014) ent quả tự chủ tài hỗn hợp soát nguồn nhân lực autonomy chính và phi tài (HRM), kiểm soát đầu ra in chính thông (PR), kiểm soát quản lý 9 corporatiz qua lý thuyết (GM), và kiểm soát đầu tư esd trao đổi xã hội (SI). Kết quả nghiên cứu enterprise cho thấy việc cổ phần hóa s: a social doanh nghiệp đẩy mạnh exchange quyền kiểm soát nguồn perspectiv nhân lực và kiểm soát đầu e ra, nhưng không thấy có việc thúc đẩy về kiểm soát quản lý và kiểm soát đầu tư. Kết quả nghiên cứu xác định được 7 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tự chủ tài chính trong điều kiện tự chủ và mô hình nghiên cứu đề xuất như sau: FP = β 0 + β 1 GOV + β 2 0UT + β The effect 3 SI + β 4 AMR + β 5 HR of + β 6 FR + β 7 PD + ε.