Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỂ Cơ BẢN VỂ V ố N VÀ H IỆ U QUA SỬ DỤNG * VỐN CỦA T ổN G CÔNG TY T Ạ• I V IỆ• T NAM 1.1- KHÁI QUÁT CHUNG VE MÔ HÌNH TổNG CÔNG TY HIỆN NAY ở VIỆT NAM: 1.1- Q uá trìn h h ìn h th à n h và p h át triể n của tổng công ty: Thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, từ năm 1989 nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ chế mới các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ nhiều hạn chế: Thiếu vôn, trình độ quản lý yếu, trình độ công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế và mức độ sinh lợi của đồng vốn thấp. Kết quả, hầu hết các doanh nghiệp nhà nước lâm vào tình trạng hàng hoá, dịch vụ sản xuất ra có giá thành cao, chất lượng kém, không có thị trường tiêu thụ. Với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, đồng thòi để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, Thủ tưống chính phủ đã có nhiều quyết định hướng dẫn tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).
Đặc biệt sự ra đòi nghị định 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban hành ngày 20 tháng 11 năm 1991 đã làm giảm mạnh số’ lượng doanh nghiệp nhà nước, thông qua việc sát nhập, giải thể các doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ kéo dài, không hiệu quả, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế (năm 1989 Việt Nam có 12.296 DNNN, đến cuối năm 1995 còn khoảng 6.300 DNNN hoạt động ). Sau nghị định 388/HĐBT, ngày 07 tháng 03 năm 1994, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định 90/TTG và 91/TTG về việc tiếp tục sắp xếp lại DNNN và thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh (thành lập các tổng công ty nhà nước) nhằm tập trung hoá sản xuất, tập trung vốn, đổi mói công nghệ, tăng cường khả năng cạnh tranh, phân tán rủi ro và chông sự bế tắc của thị 6 Luận án Thạc s ĩ- Trường Dại học Kinh tô'Q uốc dẫn Hả nội trường tiêu thụ. Từng bưốc xoá bỏ chế độ chủ quản trực tiếp của cơ quan nhà nước, can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh làm cho doanh nghiệp vừa bị gò bó vừa không chịu trách nhiệm đầy đủ với kết quả kinh doanh và bảo toàn, phát triển vốn được giao. Quyết định 90/TTG và 91/TTG chính là thòi ,, điểm đánh dấu sự hình thành mô hình tổng công ty trong nền kinh tế thị trường ỏ nước ta thay cho mô hình tổng công ty và liên hiệp các xí nghiệp quôc doanh được thành lập theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp trong những năm đầu của thập kỷ 60.2- P h â n loại tổng công ty : Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng chính phủ về điều kiện, tiêu chuẩn thành lập tổng công ty.
Hiện nay ở nước ta tổng công ty được phân làm hai loại: Tổng công ty được thành lập theo quyết định 90/TTG và tổng công ty được thành lập theo quyết định 91/TTG.1- Tổng công ty - Thành lập theo quyết đ ịn h 90/TTG : Là tổng công ty được thành lập trên cơ sỏ đăng ký lại các liên hiệp xí nghiệp và tổng công ty được thành lập theo cơ chế cũ. Quyết định 90/TTG qui định các liên hiệp xí nghiệp và các tổng công ty được đăng ký lại là tổng công ty phải thoả mãn 6 điều kiện, trong đó có 2 điều kiện cơ bản: Môt là, có ít nhất 5 đơn vi thành viên, quan hệ với nhau về công nghệ, tài chính, chương trình đầu tư phát triển, dịch vụ về: Cung ứng, vận chuyển, tiêu thụ, thông tin, đào tạo. H ai là, có vốn pháp định trên 500 tỷ đồng (ngành đặc thù vốn pháp định có thể thấp hơn, nhưng không ít hơn 100 tỷ đồng). Sau đó tại quyết định 272/TTG giảm số vốn tối thiểu không ít hơn 100 tỷ đồng.
Qua kết quả thống kê hiện nay cả nưốc có 73 tổng công ty được thành lập theo quyết định 90/TTG.2- Tổng công ty - T hành lập theo quyết đ ịn h 91/TTG : Là tổng công ty được thành lập nhằm tích tụ và tập trung vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh, thực hiện chủ. trương xoá bỏ dần chế độ Bộ chủ quản và sự phân biệt doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương, tăng cường 7 Luận én Thạc s ĩ- Trưởng Dại học Kinh tổ Q uốc dân Hà nội vai trò quản lý nhà nước đối vối các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tổng công ty được thành lập theo quyết định 91/TTG phải có 2 điều kiện chủ yếu: Thứ nhất. Có ít nhất 07 doanh nghiệp thành viên và có vốn pháp định ' < ít nhất là 1.
Thủ tướng chính phủ ra quyết định thành lập tổng công ty, hội đồng quản trị, điều lệ tổ chức, hoạt động của tổng công ty (điều này đối với tổng công ty thành lập theo quyết định 90/TTG do Bộ trưởng qưyết định và phê duyệt). Theo kết quả thống kê hiện nay có 18 tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTG.3- B ản ch ấ t và những đặc trư n g cơ b ản của tổng công ty : 1.1- B ả n c h ấ t: Tổng công ty là một DNNN được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên, có mốì quan hệ gắn bó vói nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị.2- N hữ ng đặc trưng cơ bản của tổng công ty nhà nước : Một là, có vốn lớn và nhiều đơn vị thành viên. H ai là, phạm vi hoạt động rộng, kinh doanh đa ngành, mang tính khu vực hoặc toàn quốc và xuyên quốc gia. Ba là, mô hình tổ chức giông công ty cổ phần.
Sô' lượng cán bộ công nhân viên đông, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ, có kinh nghiệm. B ốn là, về loại hình tổng công ty là một loại tập đoàn được xác lập trên cơ sở các mối liên kết “ không cứng quá “ mà cũng “ không mềm quá “ như các tổng công ty, các hiệp hội thành lập trong thời kỳ bao cấp. Mô hình tổng công ty của nước ta hiện nay là loại tập đoàn đơn sở hữu, trong đó: Tổng công ty thành lập theo quyết định 90/TTG là kiểu liên hiệp các đơn vị thành viên theo chiều ngang thuộc cùng một ngành, cùng một lĩnh vực kinh doanh. Tổng công ty thành lập theo quyết định 91/TTG là sơ khai của hình thức liên hiệp cả 8 Luận án Thạc s ĩ - Trường Dại học Kinh t ế Q uốc dẫn Hà nội chiều dọc và chiều ngang theo hướng đa dạng hoá, các đơn vị thành viên hoạt động đa ngành trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, vận tải, ngân hàng.Đây là hình thức hiện đại và phổ biến nhất hiện nay được các nước phát triển áp dụng nhưng là mô hình tập đoàn có nhiều chủ sở hữu.4- Vai trò của tổng công ty tro n g n ền k in h tế th ị trư ờ n g của V iêt Nam : Tập đoàn các doanh nghiệp (gọi tắt là tập đoàn kinh doanh) là một tổ chức kinh tế được hình thành và tồn tại trong nền kinh tế thị trường do quá trình tự liên kết nhiều công ty, xí nghiệp của nhiều chủ sở hữu khác nhau, nhằm tập trung tư bản, thực hiện chuyên môn hoá đầu tư theo chiều sâu, có khả năng nhanh chóng đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh dành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế quy mô hoặc độc quyền.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay do sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ, dưới tác động của quy luật cạnh tranh- phá sản- độc quyền, việc thành lập các tập đoàn kinh doanh là một xu thế tất yếu khách quan. Từ năm 1989 nền kinh tế Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, với quan điểm kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, định hướng phát triển nền kinh tế. Một vấn đề đặt ra làm sao và làm như thế nào để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nưốc ? Trong 10 năm qua Chính phủ đã có hai chủ trương quan trọng: Tổ chức lại tổng công ty và cổ phần hoá một bộ phận DNNN, do đó các tổng công ty thành lập theo quyết định 90,91/TTG đã ra đời, với mục tiêu tích tụ, tập trung vốn, tạo điều kiện cho việc đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh, có cơ hội vượt lên chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nưốc, làm cơ sở cho sự hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế sau năm 2000. Hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý giữa khu vực kinh tế quốc doanh và tư nhân, làm cho kinh tế quốc doanh mạnh lên, thực sự là bánh lái điều khiển nền kinh tế phát triển theo con đuưòng xã hội chủ nghĩa.
Song một câu hỏi đặt ra: Liệu mô hình tổng 9 Luận án Thục s ĩ- Trường Dại học Kinh tê'Q u ố c dấn Hà nội công ty được thành lập có phải là hướng đi đúng, là giải pháp hữu hiệu hay không? 1.2- T ính cấp th iế t của việc n ân g cao h iệu quả sử dụng vốn ở tổ n g công ty h iện nay : 1.1- T ình h ìn h vôn, q uản lý và sử dụng vô"n tro n g tổng công ty: 1.1- Đối với doanh nghiêp nhà nước: Trước kia và hiện nay có quy mô vốn rất nhỏ (năm 1993 đa sô" có mức vốn dưới 5 tỷ đồng - chiếm khoảng 88%). Qua sô"liệu vô"n của các doanh nghiệp (phụ lục 1) càng cho chúng ta thấy một nghịch lý đang tồn tại trong các doanh nghiệp Việt Nam: Quy mô vốn nhỏ, nhiệm vụ lớn và phải kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Trong khi đó: Tỷ trọng vôh đầu tư cho thiết bị chiếm 30% đến 50%, đây là một tỷ lệ quá thấp làm cho việc đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật công nghệ mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ. Nhiều doanh nghiệp có hiện tượng vừa thừa vừa thiếu thiết bị, hiệu suất sử dụng chỉ đạt 50% đến 60%.
Vòng quay của đồng vốn thấp.