Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương này sẽ giới thiệu về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, cũng như kết cấu khóa luận của đề tài. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm Chương này sẽ trình bày về các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết có liên quan đến bài nghiên cứu, dựa trên các nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước. Chương này cũng sẽ chỉ ra những điểm mới, điểm khác biệt và khoảng trống tri thức của đề tài so với các nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày về quy trình nghiên cứu, phương pháp lựa chọn mẫu, thu thập và xử lý dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết.
Chương này cũng nêu các tiêu chí đánh giá mô hình nghiên cứu và các giả định cần thỏa mãn. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này sẽ trình bày và thảo luận về các kết quả phân tích dữ liệu gồm: thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định tính dừng, kiểm định đường bao (bound - test), lựa chọn độ trễ tối ưu, phân tích hồi quy, kiểm định mô hình, ước lượng mô hình, kiểm định chuẩn đoán mô hình, kiểm định giả thuyết. Chương này cũng sẽ so sánh và đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài đến dòng vốn FDI, cũng như tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, công 7 nghệ, môi trường và an ninh quốc gia của Việt Nam. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tóm tắt kết quả nghiên cứu, kết luận về đề tài, đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút FDI, tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi và minh bạch, tăng cường liên kết giữa FDI và kinh tế trong nước, khuyến khích FDI đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Chương này cũng nêu ra các hạn chế của đề tài và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài 2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện có để thực hiện các hoạt động nhằm mục đích tạo ra các giá trị cao hơn trong tương lai.
Các nguồn lực này có thể bao gồm tiền bạc, tài nguyên thiên nhiên, lao động, trí tuệ, hoặc bất kỳ tài sản nào khác có thể được đánh giá bằng tiền. Đầu tư có thể được thực hiện bởi các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ, hoặc các tổ chức khác. Đầu tư có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vì nó là cách để tăng năng lực sản xuất và tạo ra sự phát triển kinh tế. Đầu tư cũng là một yếu tố cấu thành của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), là chỉ số đo lường sự phong phú và hoạt động kinh tế của một quốc gia.
GDP bằng tổng của tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi tiêu chính phủ (G), và xuất khẩu ròng (NX), hay GDP = C + I + G + NX. Đầu tư cũng là một hàm phụ thuộc vào thu nhập (Y) và lãi suất (r), hay I = f (Y, r). Khi thu nhập tăng, nhu cầu đầu tư cũng tăng; khi lãi suất tăng, chi phí đầu tư cũng tăng, do đó làm giảm nhu cầu đầu tư. Theo tính chất quan hệ quản lý của nhà đầu tư đối với nguồn lực đầu tư, hoạt động đầu tư được chia thành đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp.
Trong đó, Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Hiện nay có nhiều cách định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài trên nhiều loại sách báo, tạp chí của các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ các nước. Theo tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”.
Phương diện quản lý là điều kiện để 9 phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con" hay " chi nhánh công ty”. Tổ chức Hợp Tác Và Phát triển kinh tế (OECD): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư với mục đích thiết lập các quan hệ kinh tế bền vững với một công việc kinh doanh, đem lại khả năng thực hiện một ảnh hưởng có hiệu quả đối với quản lý việc đầu tư ấy bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và (iv) cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)”.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) xác định: “FDI là một hoạt động đầu tư mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích và sự kiểm soát lâu dài bởi một thực thể (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài). Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế ấy. Định nghĩa này không cho chúng ta biết chính xác một việc đầu tư là gì”. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong báo cáo cán cân thanh toán tháng năm đã đưa ra định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài: “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư - hosting country), Không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”.
Như vậy, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng các nguồn lực 10 đầu tư, theo hình thức này thì người đầu tư vốn và người sử dụng vốn cùng một chủ thể. Ngoài ra Báo cáo Hoạt động đầu tư thế giới của Liên Hiệp Quốc (United Nations) năm 1999 định nghĩa Đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một sự đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn và phản ánh lợi tức lâu dài và sự kiểm soát của một chủ thể trong một nền kinh tế (chủ thể ở đây có thể là nhà đầu tư cá thể ở nước ngoài hoặc công ty mẹ)". Văn bản “Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” năm 1987 (đã sửa đổi năm 2000) quy định: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”. Định nghĩa này nêu khá toàn diện về các đặc tính của FDI.
Luật đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, tại Khoản 2 Điều 3 định nghĩa đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư, tại Khoản 5 Điều 3 định nghĩa “nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”, tại Khoản 6 Điều 3 định nghĩa “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 26/11/2014, tuy không đưa ra khái niệm về FDI, nhưng tại Điều 3 có nêu định nghĩa: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam” và “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; 11 đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư”. Từ định nghĩa có thể suy ra rằng FDI là quá trình nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, hàm ý trong đó là việc nhà đầu tư tự bỏ vốn và tham gia quản lý. Từ đây, cần phân biệt, đầu tư trực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp nước ngoài.
Đầu tư gián tiếp của nước ngoài được thực hiện dưới một số hình thức như các hoạt động tín dụng đầu tư quốc tế, ODA, đầu tư trên thị trường chứng khoán. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào một quốc gia khác để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, vốn FDI là nguồn vốn, tài sản đầu tư có nguồn gốc nước ngoài được cấp phép hoạt động kinh doanh tại một hay nhiều địa phương tại Việt Nam vì phạm vi nghiên cứu của đề tài là ở Việt Nam nên theo luật đầu tư của Việt Nam.