Chương 1 đã thể hiện rõ vấn đề cần nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của bài luận. Phương pháp định lượng được sử dụng trong bài viết thông qua mô hình hồi quy khi sử dụng phần mềm thống kê kinh tế Stata 15.1, nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động NHTM ở Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh sự bất định chính sách kinh tế, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để gia tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong thời kỳ hiện tại. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 2. BẤT ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ 2.
Khái niệm bất định chính sách kinh tế Bất định (Uncertainty) hay không chắc chắn là khái niệm được đề cập trong nhiều nghiên cứu. Khi cuốn sách “Thời đại của sự không chắc chắn” của John Kenneth Galbraith vào năm 1977 ra đời, “không chắc chắn” hay “bất định” được các chuyên gia 6 Nguyễn Xuân Tiến đánh giá là chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính (Al-Thaqeb & Algharabali, 2019). Theo định nghĩa từ điển Oxford, sự không chắc chắn đề cập đến các tình huống mang tính nhận thức liên quan đến thông tin không hoàn hảo hoặc không xác định. Nó áp dụng cho các dự đoán về các sự kiện trong tương lai, cho các phép đo vật lý… Bất định chính sách kinh tế (EPU) là một khái niệm chưa được định nghĩa thống nhất trong giới học thuật.
Theo Al-Thaqeb & Algharabali (2019), một số học giả hiểu bất định chính sách kinh tế là chính sách tiền tệ, quy định và ngoại khóa không thể dự đoán được, cuối cùng góp phần vào sự biến động của thị trường. Theo Abel (1983), EPU có thể hiểu là những thay đổi bất ngờ ảnh hưởng đến hệ sinh thái kinh tế và cách những thay đổi đó ảnh hưởng đến các chính sách tiền tệ hoặc bất kỳ chính sách nào khác của chính phủ ảnh hưởng đến các chủ thể trong nền kinh tế. EPU làm gia tăng rủi ro cho các chủ thể trong nền kinh tế khi đưa ra các quyết định về chi tiêu, đầu tư. Bất định chính sách kinh tế được hiểu là những thay đổi không lường trước được của các chính sách kinh tế, ảnh hưởng đến hệ thống kinh tế và việc ra quyết định của các chủ thể trong nền kinh tế (Jurado, Ludvigson và Ng, 2015).
Như vậy, EPU có thể hiểu là những thay đổi bất ngờ, không lường trước được của chính phủ và cơ quan quản lý liên quan đến chính sách kinh tế. Đo lường GEPU EPU là một rủi ro không thể đoán trước phát sinh từ quá trình điều chỉnh chính sách. Việc đo lường hiệu quả của EPU là điều cần thiết đối với nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan. Hiện tại, có hai phương pháp chính để đo EPU.
Một được đo lường bằng các biến giả phi kinh tế (Ví dụ: Julio và Yook, 2012) hoặc sự biến động của một biến chính sách kinh tế duy nhất (Ví dụ, Creal và Wu, 2016). Tuy nhiên, vấn đề chính của phương pháp này là nhiều thay đổi chính sách khó được mô hình hóa thông qua các thống kê tiêu chuẩn. Phương pháp khác xây dựng chỉ số tổng hợp dựa trên phân tích văn bản (Ví dụ: Baker và cộng sự, 2016; Manela và Moreira, 2017; Huang và cộng sự, 2020). Chỉ số toàn diện này có thể phản ánh mức tổng thể của EPU, với tính liên tục tốt, khả năng truy nguyên và khả năng thay đổi theo thời gian.
Do đó, tác giả sử dụng chỉ số EPU do Baker et al đề xuất. 7 Nguyễn Xuân Tiến Baker, Bloom và Davis (2016) dựa trên cơ sở thu thập tin tức, phân tích dữ liệu text để xây dựng chỉ số EPU của các quốc gia trên thế giới. Nhóm tác giả xây dựng các chỉ số dựa trên các cụm từ có hàm ý bất ổn trên phương tiện truyền thông theo phương pháp khai phá dữ liệu dạng chữ (text-mining). Chỉ số này được các tác giả xây dựng dựa trên 2 nguồn thông tin chính.
Thứ nhất, các tác giả dựa trên thống kê về các cụm từ thể hiện sự bất ổn chính sách kinh tế trong các bài báo được thống kê về tần suất và thái độ theo công nghệ học máy. Điều này cho thấy, mức độ không chắc chắn của truyền thông về chính sách kinh tế trong tương lai, từ đó, phản ánh tới hành vi của các chủ thể tham gia trong thị trường. Thứ hai, các tác giả đánh giá sự bất ổn chính sách kinh tế thông qua sự không đồng nhất của các nhà dự báo kinh tế về chính sách kinh tế trong tương lai thông qua sai lệch về dự báo trong các chỉ số kinh tế cốt lõi của kinh tế vĩ mô. Bằng cách sử dụng thuật toán, nhóm nghiên cứu đã xây dựng cách thức đo lường EPU dựa trên thông tin được đăng tải chính thống ở các quốc gia.
EPU được tính bằng mức trung bình của ba phần: mức độ đưa tin của báo về sự không chắc chắn liên quan đến chính sách về kinh tế, bao nhiêu điều khoản trong bộ luật thuế liên bang sắp hết hạn và sự bất đồng giữa các nhà dự báo kinh tế. Mỗi chỉ số EPU quốc gia phản ánh tần suất tương đối của các bài báo trong nước có bộ ba thuật ngữ liên quan đến nền kinh tế, sự bất định và các vấn đề liên quan đến chính sách. Dữ liệu nào được cập nhật theo tháng và công bố trên website. Davis (2016) dựa trên nghiên cứu của Baker, Bloom và Davis (2016) xây dựng chỉ số hàng tháng về Sự bất định của chính sách Kinh tế Toàn cầu (GEPU) từ tháng 1 năm 1997.
Chỉ số GEPU được tính bởi chỉ số EPU quốc gia trung bình theo GDP trên 16 quốc gia chiếm 2/3 sản lượng sản xuất toàn cầu. Chỉ số GEPU tăng mạnh do phản ứng với Khủng hoảng tài chính châu Á, vụ khủng bố 11/9, cuộc xâm lược Iraq do Hoa Kỳ dẫn dầu năm 2003, Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, cuộc khủng hoảng nhập cư châu Âu, những lo ngại về nền kinh tế Trung Quốc vào cuối năm 2015, và cuộc trưng cầu dân ý về Brexit vào tháng 6 năm 2016. Nó dao động ở mức cao liên tục từ giữa năm 2011 đến đầu năm 2013, giai đoạn được đặc trưng bởi các cuộc khủng hoảng ngân hàng và nợ có chủ quyền tái diễn ở Khu vực đồng tiền chung châu Âu, các cuộc chiến căng thẳng giữa các đảng phái về chính sách tài khóa và chăm sóc sức khỏe ở Hoa Kỳ và sự chuyển đổi 8 Nguyễn Xuân Tiến lãnh đạo nhiều thế hệ ở Trung Quốc. Giá trị trung bình của Chỉ số GEPU từ tháng 7 năm 2011 đến tháng 8 năm 2016 cao hơn 60% so với trong hơn 14 năm trước đó và cao hơn 22% so với năm 2008-2009.
Biểu đồ 1: Diễn biến chỉ số GEPU giai đoạn 1997 - 2020 Nguồn: http://www.com/ Biểu đồ 1 mô tả biến động của chỉ số GEPU, giai đoạn từ 1997 - 2020. Có thể thấy, chỉ số GEPU đều tăng mạnh ở các sự kiện mang tính bất ổn cao như khủng hoảng tài chính tại châu Á và Liên Xô cuối năm 1998, khủng hoảng kinh tế thế giới giai đoạn 2008 - 2009, cho đến các sự kiện chính trị như Brexit năm 2016 hay cuộc tranh cử Tổng thống nhiệm kỳ II của cựu Tổng thống Donald Trump. Chỉ số GEPU đạt đỉnh tại thời điểm cuối năm 2019, với sự bùng phát của đại dịch Covid-19, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế thế giới và chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Tác động của bất định chính sách kinh tế Ảnh hưởng của EPU đến các chủ thể trong nền kinh tế được chứng minh qua nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm.
Keynes (1973) đã nhận định bất định, bao gồm bất định chính sách kinh tế dẫn đến tình trạng thiếu thông tin làm cho cac chủ thể khó có thể ra quyết định về chi tiêu và đầu tư. EPU được xem như là một rủi ro đối với các chủ thể trong nền kinh tế. Baker và cộng sự (2016) cho rằng sự không chắc chắn về chính sách đặc biệt làm trì hoãn khả năng phục hồi từ suy thoái kinh tế do các doanh nghiệp và hộ gia đình trì hoãn các quyết định của họ về chi tiêu đầu tư và tiêu dùng. Dựa trên tổng hợp của Al-Thaqeb & Algharabali (2019), EPU có ảnh hưởng đến toàn bộ các chủ thể trong nền 9 Nguyễn Xuân Tiến kinh tế.
EPU làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Người tiêu dùng buộc phải trì hoãn chi tiêu khi thu nhập không chắc chắn cao (Eberly, 1994). Hoạt động đầu tư của các hộ gia đình và doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng đáng kể trong thời kỳ chính sách kinh tế bất định do những rủi ro mà EPU mang lại (Bloom, 2009; P astor & Veronesi, 2012). Sự gia tăng sự không chắc chắn về chính sách sẽ có tác động lâu dài đến các khoản đầu tư vốn, và kết quả là những hậu quả lâu dài đối với tăng trưởng kinh tế (Barrero, Bloom, & Wright, 2017).
Đặc biệt, lĩnh vực tài chính ngân hàng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. EPU dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng cũng như đạo đức của người vay làm cho các hoạt động của các chủ thể trung gian tài chính gặp nhiều bất lợi. Tahbaz-Salehi và Vedolin (2017) cho rằng những bất ổn về chính sách tiền tệ thường có tác động đến tỷ giá hối đoái và các thị trường giao dịch trên thị trường tài chính. Bordo, Duca và Koch (2016), EPU đó có mối quan hệ ngược chiều với tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng.
Do đó, sự không chắc chắn liên quan đến các chính sách trong tương lai có thể dừng hoặc giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng bằng cách tăng các ràng buộc đối với tài trợ của ngân hàng. Pierce và Schott (2016) quan sát thấy rằng tác động của thương mại quốc tế đối với việc làm trong nước phụ thuộc vào mức độ tiếp xúc của ngành và thương mại; tiếp xúc nhiều hơn dẫn đến hiệu ứng mạnh hơn. Họ chỉ ra rằng tác động của sự không chắc chắn đối với việc làm phụ thuộc vào mức độ tiếp xúc của ngành đối với cả các chính sách kinh tế và thương mại quốc tế. Những nghiên cứu trên cho thấy ảnh hưởng của EPU đến nền kinh tế và các chủ thể trong nền kinh tế, bao gồm ngân hàng.
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 2. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động ngân hàng NHTM, theo Quản trị Ngân hàng thương mại – Peter S.