chương 1 đã trình bày chi tiết và rõ ràng về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, theo đó tác giả khẳng định đề tài nghiên cứu có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn. Đồng thời, tác giả đã tiến hành phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trình bày các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng cho đề tài. Chương này cũng đã đưa ra được những ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài, và cuối cùng là trình bày kết cấu nghiên cứu của đề tài bao gồm 5 chương và mục tiêu chi tiết của từng chương nghiên cứu. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 2. Khái niệm về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh. Các nhà nghiên cứu định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ (debt) và vốn cổ phần (equity) trong tổng nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các dự án đầu tư. Ngoài ra, theo Nguyễn Minh Kiều, cấu trúc vốn của doanh nghiệp còn được định nghĩa như là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh.
Theo các chuyên gia phân tích tài chính, trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.tuy nhiên, thị trường hoàn hảo chỉ là một khái niệm rất lý tưởng nên trên thực tế có mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp. Chính vì mối liên quan này, thuật ngữ đòn bẩy nợ (hay đòn bẩy tài chính) cũng hàm ý cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Rajan và Zingales (1995) cho rằng định nghĩa về cấu trúc vốn phụ thuộc vào mục tiêu phân tích. Có hai vấn đề thường quan tâm khi đo lường cấu trúc vốn: Thứ nhất, việc xác định giá trị của tài sản và các khoản nợ phải trả khi xem xét cấu trúc vốn thìgiá trị thị trường hay giá trị sổ sách sẽ sử dụng?có hai trường phái đối lập về vấn đề này.
Theo lối sử dụng giá trị sổ sách (lấy sổ sách kế toán), chi phí cơ bản của các khoản vay là chi phí kỳ vọng của sự kiệt quệ về tài chính trong trường hợp phá sản. Sự kiệt quệ tài chính ảnh hưởng đến chi phí vốn trung bình, tác động kéo theo đến một cấu trúc vốn tối ưu. Theo đó, giá trị của một doanh nghiệp bị kiệt quệ sẽ gần với giá trị sổ sách. Nếu việc phá sản xảy ra, việc đo lượng trách nhiệm đối với các chủ nợ theo giá trị sổ sách kế toán là chính xác nhất.
Giá trị sổ sách còn phù hợp khi xác định cấu trúc vốn đối với các công ty không yết giá hay các doanh 9 nghiệp nhỏ. Nếu sử dụng giá sổ sách, giá trị nợ và tài sản được sử dụng trên bảng cân đối kế toán. Kiểu đo lường này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Theo trường phái giá trị thị trường, người ta cho rằng giá trị thị trường xác định được giá trị thực của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có giá trị vốn chủ sở hữu âm trên sổ kế toán nhưng lại có giá thị trường dương. Điều này có thể xảy ra nếu hoạt động kinh doanh trước đây thua lỗ làm vốn chủ sở hữu có giá trị âm, nhưng giá thị trường dương phản ánh các dòng tiền kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp đó. Vì thế, nhiều nghiên cứu sử dụng cả giá trị thị trường và giá trị sổ sách để đo lượng cấu trúc vốn. Thứ hai, loại nợ nào để xác định cấu trúc vốn? Có cần thiết đo lường cấu trúc vốn theo từng loại nợ không? Nếu các dự đoán lý thuyết chủ yếu quan tâm ảnh hưởng của các yếu tố đối với cấu trúc vốn ở góc độ chung thì các nghiên cứu thực nghiệm thường đo lường cấu trúc vốn theo các khoản nợ vay ngắn hạn và dài hạn.
Bennette và Donnelly (1993) cho rằng nếu các doanh nghiệp có các chính sách tài trợ riêng biệt với các khoản nợ vay ngắn hạn thì ở các doanh nghiệp đó thực sự có sự tương tác giữa mức nợ vay ngắn hạn và dài hạn. Michaelas và cộng sự (1999) cho rằng nếu các yếu tố ảnh hưởng đến nợ ngắn hạn khác với các yếu tố ảnh hưởng đến nợ dài hạn thì cần thiết sử dụng cả nợ vay ngắn và nợ dài để đo lường cấu trúc vốn. Đây là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: Nợ vay hay toàn bộ nợ phải trả cũng là vấn đề cần xem xét khi đo lường cấu trúc vốn. Bởi vì, trong nợ phải trả còn có các khoản tín dụng thương mại và các nguồn vốn tạm thời khác mà những nguồn vốn này cũng góp phần không nhỏ trong các khoản tài trợ ở doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Tóm lại, chúng ta có thể đưa ra một vài chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp, bao gồm: Tỷ lệ nợ phải trả/ tổng tài sản; tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản; tỷ lệ nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu; tỷ lệ nợ dài hạn/ vốn thường xuyên. Vai trò của cấu trúc vốn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Đối với doanh nghiệp 10 Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Theo Goyal (2013), quyết định về cấu trúc vốn có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị của doanh nghiệpvà chi phí vốn.
Một cấu trúc vốn yếu kém có thể dẫn tới chi phí vốn tăng lên làm giảm giá trị hiện tại thuần cả doanh nghiệp (NPV) từ đó các dự án đầu tư của doanh nghiệp không thể chấp nhận được. Đối với nhà đầu tư, người cho vay Tỉ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp. Chẳng hạn một doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sở hữu và quá nhiều vốn vay thì rủi ro thường sẽ cao hơn nhiều do giới kinh doanh đánh giá về sức ép chi trả các trách nhiệm tài chính có thể có tác động tiêu cực lên các quyết định quản lý của Ban giám đốc và tình trạng tài chính công ty. Nếu tỷ lệ vay nợ của doanh nghiệp quá nhiều dẫn tới mức độ rủi ro phá sản doanh nghiệp cao.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc doanh nghiệp có số nợ vay tăng lên nhưng chi phí lãi vay lại giảm đi cho thấy doanh nghiệp đi vay nợ với lãi suất ưu đãi những cũng có thể cho thấy tình trạng thiếu minh bách trong tài chính của doanh nghiệp. Đối với người cho vay, trong trường hợp doanh nghiệp đi vay quá nhiều và phải trả nợ nhiều, điều này làm gia tăng khả năng phá sản của doanh nghiệp. Các chủ nợ sẽ nhìn vào thực trạng này của doanh nghiệp để quyết định có nên tiếp tục cho con nợ vay hay không, bởi nếu tiếp tục cho vay thì sẽ đến lúc nào đó, giá trị thị trường của tổng nợ sẽ vượt quá giá trị thị trường của tổng tài sản hay cho dù có bán hến tài sản đi thì doanh nghiệp cũng không trả hết nợ và chủ nợ là người sẽ gánh chịu rủi ro này. Thành phần của cấu trúc vốn Nói đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp là nói đến 2 thành tố chính, đó là vốn chủ sở hữu và nợ.
Vốn chủ sở hữu 11 Khái niệm vốn chủ sở hữu: Theo Rajan và Zingales (1995) vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Có 3 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản.Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi. Huy động vốn chủ sở hữu: Các doanh nghiệp có thể huy động vốn chủ sở hữu bằng nhiều cách: vốn góp ban đầu, tăng vốn góp, phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường hay giữ lại lợi nhuận. Vốn góp ban đầu: Là một lượng vốn góp ban đầu nhất định do các cổ đông hay chủ sở hữu góp vào các donh nghiệp khi mới thành lập.
Tùy vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước – chủ sở hữu vào doanh nghiệp. Quy mô của vốn góp ban đầu vào doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quy định của pháp luật ở mỗi thời kỳ… Lợi nhuận không chia: Cổ tức sẽ được chia cho các cổ đông vào cuối năm tài chính từ lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp để tăng vốn chủ sở hữu các cổ đông sẽ đồng ý cho doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mà không nhận hoặc nhận một phần cổ tức.
Đây là nguồn vốn rất chủ động, doanh nghiệp không bị rang buộc từ bên ngoài,tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hang hay tổ chức tín dụng khác từ đó tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các giai đoạn phát triển sau này. Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp vì có thể huy động vốn nhanh và nguồn vốn huy động lớn.