CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA DÒNG TIỀN, RỦI RO HỆ THỐNG, RỦI RO PHI HỆ THỐNG VÀ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các nghiên cứu liên quan đến dòng tiền và đầu tư: - Khi xem xét chung cho toàn thể, dòng tiền có ảnh hưởng dương đến đầu tư tư (Fazzari và cộng sự, 1988; Kaplan và Zingales, 1997; Bhagat và cộng sự, 2005; Bloom và cộng sự, 2007; Firth và cộng sự, 2012…). Tuy nhiên, đối với các DN hạn chế tài chính, dòng tiền ảnh hưởng đến đầu tư chưa có kết quả thống nhất: có nghiên cứu cho thấy dòng tiền ảnh hưởng dương đến đầu tư, nhưng cũng có nghiên cứu cho kết quả ngược lại (Bhagat và cộng sự, 2005; Almeida và Campello, 2007; Cleary và cộng sự, 2007). - Về mức độ ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư theo yếu tố hạn chế tài chính, hiện cũng có hai trường phái có kết luận trái ngược nhau: Một trường phái cho rằng, đầu tư những DN nhiều hạn chế tài chính nhạy cảm với dòng tiền hơn những DN ít hạn chế tài chính (Fazzari và cộng sự 1988; Hoshi và cộng sự, 1991; Alti, 2003; Bhagat và cộng sự, 2005…).
Trường phái còn lại cho kết luận ngược lại là, đầu tư những DN ít hạn chế tài chính nhạy cảm với dòng tiền hơn những DN nhiều hạn chế tài chính (Kaplan và Zingales, 1997; Cleary, 1999; Moyen, 2004; Hovakimian và Titman, 2006; Cleary và cộng sự, 2007… ). Kết luận khác nhau về độ nhạy cảm của đầu tư với dòng tiền theo yếu tố hạn chế tài chính, theo nhận xét của nhiều nghiên cứu, đó là do việc sử dụng các đại lượng đại diện cho hạn chế tài chính khác nhau. - Kết quả sự ảnh hưởng của dòng tiền đến đầu tư ở những DN có kiểm soát NN so với những DN được kiểm soát bởi tư nhân, đã 123doc 3 tìm thấy nhiều trong các nghiên cứu ở thị trường Trung Quốc. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy, DN niêm yết có sự kiểm soát của Nhà nước, đầu tư nhạy cảm với dòng tiền hơn các DN được kiểm soát bởi tư nhân (Firth và cộng sự, 2012).
Bởi vì, các DN kiểm soát bởi NN ngoài mục tiêu lợi nhuận, họ còn phải thực hiện mục tiêu điều hành kinh tế xã hội của Chính phủ. Và với chi phí đại diện ở những DN kiểm soát bởi NN cao hơn những DN kiểm soát bởi tư nhân, các DN kiểm soát bởi NN không ngần ngại trong việc thực hiện mục tiêu của Chính phủ (Wang và cộng sự, 2014) 1. Các nghiên cứu liên quan đến độ bất ổn và đầu tư: - Độ bất ổn ảnh hưởng đến đầu tư là thuận chiều hay ngược chiều tùy thuộc vào đại lượng đại diện cho độ bất ổn. Tuy nhiên ảnh hưởng ngược chiều của độ bất ổn đến đầu tư được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu hơn, nhất là khi xem xét trong lý thuyết quyền chọn (Leahy và Whited, 1996; Catherine Pattillo, 1998; Guiso và Parigi, 1999; Bond và Cummins, 2004; Bulan, 2005; Bloom và cộng sự, 2007; Panousi và Papanikolaou, 2012…).
- Các nghiên cứu Stulz (1999), Ghosal và Loungani (2000), Panousi và Papanikolaou (2012), Koetse và cộng sự (2006) cho thấy, có một sự khác nhau về dấu hiệu và mức độ ảnh hưởng của độ bất ổn đến đầu tư theo yếu tố hạn chế tài chính. Sự khác biệt này có thể xuất phát từ việc lựa chọn đại lượng đại diện cho hạn chế tài chính, hoặc từ việc lựa chọn đại lượng đại diện độ bất ổn, hay bởi cả hai yếu tố này và đặc điểm tài chính của DN. - Kết quả này thể hiện trong nghiên cứu của Xu và cộng sự (2010), Wang và cộng sự (2014), cho thấy độ bất ổn ảnh hưởng đến đầu 123doc 4 tư ở các DN kiểm soát bởi NN và ở các DN kiểm soát bởi tư nhân cũng khác nhau về dấu hiệu và mức độ ảnh hưởng. Các nghiên cứu liên quan đến tính thanh khoản chứng khoán và đầu tư: - Nghiên cứu của Becker-Blease và Paul (2006), Muñoz Francisco (2013) cho kết luận, tính thanh khoản có ảnh hưởng thuận chiều đến đầu tư, vì rằng tính thanh khoản cao như là một chất xúc tác khiến DN huy động vốn cổ phần mới thuận lợi hơn.
Khi nguồn vốn đầu tư có điều kiện gia tăng, đầu tư theo đó sẽ gia tăng. - Muñoz Francisco (2013) tìm ra kết quả các DN nhiều hạn chế tài chính, đầu tư nhạy cảm với tính thanh khoản của chứng khoán hơn các DN ít hạn chế tài chính. Bởi vì, tính thanh khoản của chứng khoán được cải thiện, các ràng buộc về việc huy động vốn bên ngoài giảm đi, nghĩa là giảm đi hạn chế tài chính của DN. Vì thế, đầu tư của các DN hạn chế tài chính khá nhạy cảm với tính thanh khoản.
- Ảnh hưởng của tính thanh khoản của chứng khoán đến đầu tư ở những DN kiểm soát bởi NN, hay theo hình thức sở hữu, nghiên cứu của luận án chưa tìm thấy được bằng chứng thực nghiệm. Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan như Firth, Lin và Wong (2008), Lesmond và cộng sự (2008), Lipson và Mortal (2009), Muñoz (2013) cho tác giả một kỳ vọng rằng mức độ ảnh hưởng của tính thanh khoản của chứng khoán đến đầu tư ở các DN kiểm soát NN yếu hơn mức độ ảnh hưởng ở những DN kiểm soát bởi tư nhân. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Xây dựng biến cho mô hình nghiên cứu 123doc 5 Biến phụ thuộc I/K: đo bằng đầu tư (I) trên giá trị TSCĐ thuần (K).
Biến độc lập chính: - Tỷ lệ dòng tiền nội bộ (CF/K): Dòng tiền nội bộ (CF) tính bằng lợi nhuận sau thuế cộng khấu hao. Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, cho tác giả kỳ vọng ảnh hưởng thuận chiều của dòng tiền đến đầu tư trong nghiên cứu của mình. - Rủi ro hệ thống (Sysrisk): Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm tác giả lựa chọn cách tính toán rủi ro hệ thống rút ra từ hệ số β (Beta) trong mô hình CAPM. Idiorisk = ( , ) - Tính thanh khoản của chứng khoán (Liquid): đo bằng ố ượ ổ ℎế ị ℎ( à ) = ố ượ ổ ℎế đ ư ℎà ℎ ố à ị ℎ ă Biến Liquid được chuẩn hóa theo năm và tác giả kỳ vọng ảnh hưởng thuận chiều của tính thanh khoản chứng khoán đến đầu tư.
Các biến kiểm soát: - Biến Q: được đo bằng giá trị thị trường của vốn cổ phần cộng với các khoản nợ phải trả, tất cả chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản. Từ các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả kỳ vọng một tương quan dương giữa cơ hội tăng trưởng Q với đầu tư khi ước lượng mô hình nghiên cứu. - Biến Lev: là tỷ lệ nợ của DN, xác định bằng tỷ lệ tổng nợ phải trả, chia cho tổng giá trị tài sản. Với mẫu dữ liệu mà tác giả đang nghiên cứu, có các DN đầu tư vượt mức nhiều hơn các DN đầu 123doc 6 tư dưới mức, cho tác giả kỳ vọng hệ số hồi quy dương của biến Lev khi ước lượng mô hình nghiên cứu.
- Biến Sale: là tốc độ tăng trưởng doanh thu năm t so với năm (t-1). Tác giả kỳ vọng hệ số hồi quy của biến Sale là dấu dương - Biến Size: tính bằng logarit tự nhiên của giá trị tổng tài sản. Tác giả kỳ vọng một tương quan dương giữa quy mô DN với đầu tư. - Biến Return: là tỷ suất sinh lời của chứng khoán chuẩn hóa theo năm, đo bằng chênh lệch giữa giá đóng cửa so với giá mở cửa ngày t, chia cho giá mở cửa ngày t.
Tác giả kỳ vọng hệ số hồi quy dương của biến Return khi tôi tiến hành ước lượng mô hình nghiên cứu. - Biến Age: tính bằng logarit tự nhiên số năm thành lập DN cổ phần. Tác giả kỳ vọng biến Age có tương quan âm với đầu tư trong kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu. Biến giả và biến tương tác: Biến giả tác giả sử dụng trong mô hình gồm: Biến DumGov: biến giả đại diện cho sự kiểm soát NN.
Biến DumGov nhận giá trị 1 nếu DN có sự kiểm soát NN và nhận giá trị 0 cho trường hợp khác. RateGov: là tỷ lệ cổ phần NN trong DN cổ phần Các biến tương tác gồm: Biến CFDumGov, SysDumGov, IdioDumGov, LiquidDumGov, CFRateGov, SysDumGov, IdioRateGov, LiquidRateGov. Xác định doanh nghiệp hạn chế tài chính 2. Lựa chọn đại lượng để xác định doanh nghiệp hạn chế tài chính Do hạn chế tài chính là không thể đo lường trực tiếp được nên nó được đại diện bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Nó có thể được đại diện 123doc 7 bởi một chỉ tiêu độc lập hay một chỉ số tổng hợp, nhưng đại lượng đại diện đó phải phản ảnh được khả năng tiếp cận nguồn vốn bên ngoài của DN. Cho luận án của mình, tác giả lựa chọn sử dụng chỉ số KZ (1997) của Kaplan và Zingales, để xác định DN hạn chế tài chính. Xác định doanh nghiệp hạn chế tài chính. Chỉ số KZ (1997) được Kaplan và Zinglase giới thiệu như phương trình (2): KZ (1997) = 0,283*M/B + 3,139*Debt/TA – 39,368*DIV/NFA – 1,315* CashHoldings/NFA – 1,002* CF/NFA (2) Trong đó, CF là dòng tiền nội bộ, được tính bằng lợi nhuận sau thuế cộng khấu hao; NFA (Net Fixed Asset): giá trị tài sản cố định thuần; TA: là tổng tài sản, M/B được tính bằng giá trị thị trường của tài sản chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản; DEBT là tổng nợ phải trả, DIV là giá trị cổ tức trả cho cổ đông, CashHoldings là tiền mặt và các khoản tương đương tiền.
DN nhiều hạn chế tài chính là những DN có chỉ số KZ càng lớn. Xác định doanh nghiệp có sự kiểm soát Nhà nước Để một quyết định chắc chắn được thông qua bởi 1 cổ đông, thì cổ đông đó cần sở hữu 51% số cổ phần có quyền biểu quyết. Tuy nhiên, theo các qui định cổ đông với một tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết nhỏ hơn 51% vẫn có khả năng chi phối một quyết định. Cụ thể, nếu một quyết định được thông qua ở cuộc họp cổ đông lần 1, thì được số cổ đông đại diện ít nhất 65%x65% = 42,25% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận.
Trong trường hợp cuộc họp thứ hai tiến hành, thì chỉ cần tỷ lệ cổ phần là 51%x65% = 33,15% vẫn có thể thông qua một quyết định của đại hội cổ đông. Như vậy, khi một cổ đông nắm giữ 33,15% số cổ phần có quyền biểu 123doc 8 quyết, họ cần phải tính toán để tạo nên cuộc họp thứ hai nhằm mục đích thông qua một quyết định.