BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------- TRẦN THỊ HỒNG LINH TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG TIỀN VÀ QUY MÔ DOANH NGHIỆP LÊN ĐẦU TƯ: BẰNG CHỨNG VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013 123doc BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---------------- TRẦN THỊ HỒNG LINH TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG TIỀN VÀ QUY MÔ DOANH NGHIỆP LÊN ĐẦU TƯ: BẰNG CHỨNG VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính – Ngân hàng Mã số : 60340201 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013 123doc LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG TIỀN VÀ QUY MÔ DOANH NGHIỆP LÊN ĐẦU TƯ: BẰNG CHỨNG VIỆT NAM” là công trình nghiên cứu của chính tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang. Ngoài những tài liệu tham khảo đã được trích dẫn trong luận văn, tôi cam đoan rằng mọi số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng dưới bất cứ hình thức nào. Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 12 năm 2013 Tác giả Trần Thị Hồng Linh 123doc MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ TÓM TẮT. GIỚI THIỆU CHUNG .1 Các lý thuyết nền tảng .2 Các bài nghiên cứu trước đây .3 Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp đã niêm yết trong giai đoạn 2007 – 2012.
MÔ TẢ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .1 Mô tả dữ liệu .2 Thiết kế mô hình .3 Phương pháp nghiên cứu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .1 Kết quả tổng hợp mẫu .2 Kết quả mẫu phụ (sub-samples) quy mô doanh nghiệp.3 Thảo luận kết quả.52 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 123doc DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HOSE Sở giao dịch chứng khoán TPHCM HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Pooled model Mô hình hồi quy gộp Random effects model (REM) Mô hình tác động ngẫu nhiên Fixed effects model (FEM) Mô hình tác động cố định Panel data Dữ liệu bảng Investment (I) Đầu tư Cash flow (CF) Dòng tiền Cash of Stock (CS) Chứng khoán tiền mặt Sales (S) Doanh thu External funds Nguồn tiền tài trợ từ bên ngoài Available internal funds Quỹ nội bộ sẵn có Expected investment Đầu tư kỳ vọng Available Cash Flow Tiền mặt sẵn có Investment – Cash flow sensitivity Độ nhạy dòng tiền - đầu tư Financial constraint Hạn chế tài chính 123doc DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tỷ lệ đầu tư TSCĐ tăng thêm trung bình trong giai đoạn 2007 -2012 .1: Bảng mô tả kỳ vọng các biến trong mô hình nghiên cứu .1: Trình bày kết quả thống kê mô tả cho các biến sử dụng trong bài nghiên cứu.2: Phân tích tương quan giữa các biến độc lập .3: Kết quả hồi quy cho toàn mẫu .1: Kết quả thống kê mô tả cho các biến đo lường quy mô doanh nghiệp .2: Kết quả hồi quy cho các công ty theo quy mô doanh nghiệp dựa trên giá thị trường .3: Tổng hợp kết quả hồi quy đầu tư cho các công ty theo (sub-sample) quy mô doanh nghiệp dựa trên giá trị thị trường .4: Kết quả hồi quy đầu tư cho các công ty theo (sub-sample) quy mô doanh nghiệp dựa trên doanh thu .5: Tổng hợp kết quả hồi quy đầu tư cho các công ty theo (sub-sample) quy mô doanh nghiệp dựa trên doanh thu .6: Kết quả hồi quy đầu tư cho các công ty theo (sub-sample) quy mô doanh nghiệp dựa trên tổng tài sản .7: Tổng hợp kết quả hồi quy đầu tư cho các công ty theo (sub-sample) quy mô doanh nghiệp dựa trên tổng tài sản .8: Kiểm định sự khác biệt giữa các cặp hệ số hồi quy .49 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ đầu tư tăng thêm giai đoạn 2007 – 2012 .21 123doc 1 TÓM TẮT Bài nghiên cứu này của tôi nghiên cứu về tác động của dòng tiền và quy mô doanh nghiệp lên đầu tư ở các công ty phi tài chính được niêm yết trước năm 2012 trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX), thời kỳ phân tích giai đoạn 2007 - 2012. Mô hình nghiên cứu của bài sử dụng dữ liệu bảng cân đối (panel data) và hồi quy theo ba phương pháp pooling, random effect (tác đông ngẫu nhiên) và fixed effect (tác động cố định). Để tìm hiểu xem phương pháp hồi quy nào là phù hợp nhất trong ba phương pháp trên, tôi sử dụng hai kiểm định là kiểm định Lagrangian Multiplier (LM test, Breusch và Pagan, 1980) và kiểm định Hausman (Hausman, 1978).
Trước tiên tôi kiểm tra tất cả các công ty trong mẫu bất kể quy mô và tôi thấy dòng tiền tác động thuận chiều lên đầu tư cho toàn mẫu, số tiền đầu tư của công ty bị ảnh hưởng bởi các nguồn vốn nội bộ, hay chính là tài chính nội bộ ảnh hưởng đến đầu tư công ty. Sau đó tôi lặp lại các phân tích phân chia các mẫu theo ba biện pháp đo lường quy mô doanh nghiệp, tôi kết hợp hồi quy mô hình theo quy mô doanh nghiệp tôi phát hiện độ nhạy cảm của dòng tiền - đầu tư trong nhóm quy mô doanh nghiệp nhỏ thì lớn hơn nhóm quy mô doanh nghiệp lớn, thể hiện rỏ nhất khi phân loại quy mô doanh nghiêp theo giá trị doanh thu và giá trị tổng tài sản. Tôi giải thích cho phát hiện này là do ở các công ty lớn bộ phận quản lý linh hoạt hơn trong việc tính toán thời gian đầu tư, nguồn quỹ nội bộ lớn, có uy tín đối với ngân hàng, các định chế tài chính nên dễ dàng huy động nguồn vốn bên ngoài, trong khi các công ty nhỏ lại ít tiếp cận với thị trường vốn bên ngoài, bị ảnh hưởng bởi thông tin bất cân xứng, chịu chi phí giao dịch cao… nên các công ty nhỏ phụ thuộc vào dòng tiền nội bộ nhiều hơn, độ nhạy cảm giữa dòng tiền và đầu tư cao hơn các công ty lớn. Từ khóa: đầu tư, quỹ nội bộ, quy mô doanh nghiệp, giới hạn tài chính 123doc 2 1.
GIỚI THIỆU CHUNG Sự nổi tiếng của định lý Modigliani - Miller (Modigliani và Miller, 1958) thừa nhận rằng cấu trúc tài chính thể hiện các nguồn vốn khác nhau thì không liên quan đến quyết định đầu tư của công ty. Đề xuất này dựa trên các giả định của một thị trường vốn hoàn hảo, trong đó vốn từ bên ngoài và nội bộ là thay thế hoàn hảo cho nhau. Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã đặt ra câu hỏi về khả năng thay thế giữa vốn nội bộ và vốn bên ngoài, vì trong thị trường vốn vẫn còn tồn tại những khiếm khuyết riêng biệt, chẳng hạn như thông tin bất cân xứng giữa các thành viên tham gia thị trường, các vấn đề của bộ phận quản lý, và chi phí giao dịch. Thông tin bất cân xứng có nghĩa là không phải tất cả người tham gia thị trường có thể cùng truy cập thông tin, ví dụ như, người trong cuộc có thông tin chi tiết liên quan đến các quyết định chiến lược của công ty đó, không được chia sẻ với các nhà đầu tư bên ngoài.
Greenwald và cộng sự (1984) lưu ý rằng thông tin không hoàn hảo có thể ảnh hưởng đến mức tín nhiệm trong thị trường cạnh tranh, do đó các nguồn vốn sẵn có và chi phí của nó không xác định được mức độ đầu tư. Vì vậy, nếu các công ty bị hạn chế về nguồn cung cấp vốn bên ngoài thì các nguồn quỹ nội bộ được ưu tiên sử dụng hàng đầu. Myers và Majluf (1984) lập luận rằng trong sự hiện diện của thông tin bất cân xứng, các nhà đầu tư bên ngoài sẽ định giá thấp các chứng khoán rủi ro, do đó sẽ tăng chi phí tài chính bên ngoài hoặc chia rẽ (driving a wedge) giữa tài chính bên trong và bên ngoài. Như vậy, một công ty với dòng tiền nội bộ lớn ít phải phụ thuộc vào các nguồn tài chính bên ngoài và người cho vay cũng ít bị rủi ro hơn.
Vấn đề bộ phận quản lý có thể phát sinh khi các nhà quản lý, người không phải là chủ sở hữu, kiểm soát công ty, như được ghi nhận lần đầu tiên bởi Jensen và Meckling (1976). Các nhà đầu tư bên ngoài có thể nghi ngờ rằng các nhà quản lý sẽ mở rộng quy mô doanh nghiệp để tiếp tục lợi ích riêng của họ chứ 123doc 3 không phải là lợi ích của các cổ đông. Do đó, các công ty được yêu cầu phải trả một số “phí bảo hiểm” tài chính bên ngoài, ngay cả khi các nhà quản lý có kế hoạch đầu tư làm tăng giá trị lợi ích của các cổ đông. Việc thêm chi phí này có thể dẫn đến công ty từ bỏ các khoản đầu tư có giá trị chắc chắn nếu quỹ nội bộ không có sẵn.
Mặt khác, các nhà quản lý tiếp cận với nguồn vốn nội bộ có thể phá vỡ các quy luật của thị trường vốn. Vì một trong hai lý do trên, một số nhà quản lý có nhu cầu tăng lên đối với tài chính nội bộ. Cuối cùng, có thể lập luận rằng nguồn quỹ nội bộ giúp các công ty tránh các chi phí giao dịch liên quan đến nợ hoặc vốn chủ sở hữu bên ngoài và vì thế các công ty đang phải đối mặt với một “hệ thống phân cấp tài chính''. Các nguồn quỹ có chi phí thấp hơn sẽ được sử dụng trước tiên, với một số lĩnh vực nhất định để duy trì cấu trúc vốn mục tiêu.
Nếu vốn cổ phần được coi là thích hợp, thì vốn nội bộ là rẻ nhất. Như vậy, những tác động kết hợp giữa thông tin bất cân xứng, những vấn đề bộ phận quản lý và chi phí giao dịch có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu về tài chính nội bộ. Nghiên cứu thực nghiệm gần đây đã kiểm tra mức độ giới hạn tài chính nội bộ và bên ngoài có ảnh hưởng đến các khoản đầu tư vốn của công ty (Devereux và Schiantarell, 1990; Fazzari và cộng sự, 1988;. Gilchrist và Himmelberg, 1995; Hoshi và cộng sự, 1991; Schaller, 1993).
Chiến lược theo đuổi trong những nghiên cứu này là một đại diện (proxy) hoặc phân chia biến mà các hạn chế tài chính không quan sát được, và sau đó sử dụng biến quan sát này để phân biệt các công ty hạn chế tài chính. Các nghiên cứu thấy rằng sự phụ thuộc của mức đầu tư trên dòng tiền cao đối với các doanh nghiệp có khó khăn về tài chính, không phụ thuộc vào phương pháp đo lường những hạn chế đó.