Chương 1: Tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng thương mại:cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2 : Thực trạng tái cơ cấu của Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quá trình tái cơ cấuNgân hàng TMCP Hàng Hải Viê ̣t Nam 6 z CHƢƠNG 1 TÁI CƠ CẤU HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về tái cơ cấu 1. Khái niệm, vai trò của tái cơ cấu 1. Khái niệm cơ cấu Cơ cấu Ngân hàng là mối tương quan tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành theo các tiêu chí khác nhau của một Ngân hàng.
Bao gồm: (i) Cơ cấu tài chính; (ii) Cơ cấu hoạt động; (iii) Cơ cấu tổ chức; (iv) Cơ cấu nhân lực. Mỗi ngân hàng có những đặc thù riêng sẽ có những cơ cấu riêng phù hợp với ngân hàng mình. Tuy nhiên, không phải mọi mối tƣơng quan tỷ lệ đều nói lên cơ cấu (dù cơ cấu là tỷ lệ). Chỉ có những tỷ lệ quan trọng, quyết định đến sự an toàn và sinh lợi của ngân hàng mới tạo nên cơ cấu.
Khi nghiên cứu cơ cấu của các Ngân hàng thƣơng mại, chúng ta thƣờng chú trọng đến thực tế cơ cấu hiện tại của các ngân hàng có phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hay không. Cơ cấu chỉ một trạng thái thông qua các tỷ lệ. Do đó nó có thể tồn tại một cách khách quan nhƣng cũng có thể có sự thay đổi nếu các ngân hàng cần thay đổi nó.2 Cơ cấu Ngân hàng thương mại Khi nghiên cứu nội dung cơ cấu của NHTM, tác giả dựa trên tiêu chí của lý thuyết CAMELS để nhằm đƣa ra chuẩn mực về cơ cấu của các NHTM. Trong đó những tỷ lệ quan trọng về vốn, tài sản, năng lực quản lý tạo nên an toàn và sinh lợi cho ngân hàng.
Lý thuyết CAMELS cho rằng nếu quản lý tốt các yếu tố đó sẽ giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng. Điều đó cũng phản ánh phần nào cơ cấu hợp lý của mỗi NHTM. - Cơ cấu tài chính Cơ cấu tài chính của một NHTM đƣợc coi là hợp lý nhằm hoạt động có hiệu quả thì phải đáp ứng đƣợc các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế về chuẩn mực là phải có đủ vốn, chất lƣợng tài sản cao và có khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. Một NHTM đƣợc xem là đủ vốn khi vốn chủ sở hữu thoả mãn: 7 z - Đảm bảo khả năng bù đắp rủi ro, chống rơi vào tình trạng vỡ nợ cho chủ sở hữu ngân hàng.
- Đảm bảo an toàn cho việc chi trả cho ngƣời gửi tiền khi có tình huống xấu xảy ra. - Đảm bảo đáp ứng đủ cho nhu cầu hoạt động của một ngân hàng nhƣ mở rộng mạng lƣới chi nhánh, trang bị thiết bị công nghệ ngân hàng… - Thoả mãn nhu cầu sử dụng đòn bẩy tài chính để nâng cao suất sinh lời của vốn chủ sở hữu. - Đảm bảo các yêu cầu mang tính luật định liên quan đến vốn chủ sở hữu nhƣ: các quy định về tỷ lệ sử dụng vốn chủ sở hữu để mua sắm tài sản cố định, quy mô cho vay, bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng… Trong hoạt động kinh doanh của NHTM thì vốn chủ sở hữu là vô cùng quan trọng mặc dù nó chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng <10%), nhƣng nó có vai trò quan trọng quyết định đến quy mô và phạm vi kinh doanh của ngân hàng. Nó là cơ sở để quyết định huy động vốn trên thị trƣờng và đƣợc sử dụng nó vào những mục đích gì.
Mặt khác vốn chủ sở hữu đóng vai trò nhƣ tấm đệm nhằm chống đỡ những rủi ro phá sản ngân hàng, tạo niềm tin cho công chúng về năng lực tài chính của NHTM. Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu tài chính của NHTM: - Tỷ lệ đầu tƣ cổ phần hoặc liên doanh so với vốn chủ sở hữu Tuỳ theo quy định cụ thể của từng nƣớc đối với NHTM của mình về tỷ lệ này nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho các NHTM. Ở Việt Nam tỷ lệ này không đƣợc vƣợt quá 50% vốn chủ sở hữu. - Tỷ lệ cho vay các đối tƣợng ƣu đãi so với vốn chủ sở hữu Các NHTM hoạt động chủ yếu là huy động và cho vay.Phần lợi nhuận mà ngân hàng có đƣợc là chênh lệch lãi suất đầu vào và đầu ra.
Tuy nhiên khi có những món vay cho các đối tƣợng ƣu đãi (nghĩa là các NHTM phải ƣu đãi về khối lƣợng cho vay, lãi suất…). Do vậy cần phải có những mức khống chế hoặc quy định tỷ lệ nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động cho các NHTM. 8 z Ở Việt Nam thì cho vay đối tƣợng ƣu đãi không vƣợt quá 5% vốn chủ sở hữu và cho vay đối với một khách hàng không vƣợt quá 15%.Sở dĩ nhƣ vậy nhằm tránh tình trạng “bỏ trứng vào một rổ” khi ngân hàng gặp rủi ro sẽ rất khó khắc phục. - Mức huy động tiền gửi so với vốn chủ sở hữu Về nguyên tắc, vốn chủ sở hữu chỉ đƣợc sử dụng một cách có giới hạn trong việc mua sắm tài sản bù đắp tổn thất khi không còn nguồn nào khác và là căn cứ để giới hạn các hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Theo quy định ở Việt Nam, tổng mức huy động vốn của một NHTM không vƣợt quá 20 lần vốn chủ sở hữu của NHTM đó. Hệ số an toàn vốn tối thiểu = Vốn tự có/Tổng tài sản có rủi ro quy đổi Trong đó: Tài sản rủi ro nội bảng x hệ số rủi ro Tổng tài sản có rủi ro = -------------------------------------------- quy đổi Tài sản rủi ro ngoại bảng x hệ số rủi ro Hệ số an toàn này đƣợc gọi là hệ số Cooke - Hệ số Cooke là thƣớc đo độ bền của mỗi ngân hàng. Theo chuẩn mực quốc tế thì hệ số này phải đạt tối thiểu là 8% thì mới đƣợc coi là an toàn Nhƣ vậy cơ cấu tài chính của một NHTM đƣợc coi là hợp lý nhằm hoạt động có hiệu quả thì phải đáp ứng đƣợc các chỉ tiêu theo thông lệ quốc tế về chuẩn mực là phải có đủ vốn, chất lƣợng tài sản cao và có khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế. - Cơ cấu hoạt động Hoạt động chủ yếu của NHTM gồm cho vay, đầu tƣ và các hoạt động khác.Để nghiên cứu cơ cấu hoạt động của một NHTM, trƣớc hết chúng ta xem xét cơ cấu tài sản có và tài sản nợ của NH.
Từ đó phân tích, đánh giá các nhóm tài sản có cho vay từng loại dịch vụ theo một chuẩn mực nhất định, sau đó tổng hợp các chỉ tiêu này để đƣa ra đánh giá về chất lƣợng tài sản có của NHTM. Tài sản có của NHTM là kết quả của việc sử dụng vốn của NH đó, nó bao gồm tất cả các khoản mục bên phải của bảng cân đối tài sản của NHTM, đó là: Tài sản ngân quỹ, tài sản cho vay, tài sản đầu tƣ và tài sản cố định. Chất lƣợng tài sản có là chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh 9 z lời, năng lực quản lý và phần lớn rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Trong tài sản có có thể chia thành hai nhóm: Một là nhóm tài sản có khả năng sinh lời.
Hai là nhóm tài sản có không có khả năng sinh lời.Trong đó tài sản có sinh lời có vai trò quan trọng quyết định hiệu quả kinh doanh của một NHTM.Vì vậy chất lƣợng tài sản có là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá một NH. Thông thƣờng phân tích chất lƣợng tài sản có trƣớc hết phải xem xét tính hợp lý trong cơ cấu của nó nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu nâng cao mức doanh lợi, đồng thời đảm bảo khả năng thanh toán đối với khách hàng. Để đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu tài sản có của một NHTM có thể sử dụng 2 chỉ số sau: Thứ nhất, chỉ số cơ cấu tỷ lệ của 4 nhóm tài sản có: Ngân quỹ, cho vay, đầu tƣ và tài sản cố định. Qua chỉ số này ngƣời ta có thể nhận định tính hợp lý của việc sử dụng vốn của một NHTM.
Ngân hàng nào có tỷ trọng tài sản cho vay và tài sản đầu tƣ càng lớn với điều kiện đảm bảo những tỷ lệ thích đáng cho tài sản ngân quỹ và tài sản cố định thì cơ cấu tài sản có của NH đó càng hợp lý. Thứ hai, chỉ số cơ cấu tỷ lệ của 2 nhóm tài sản có sinh lời và tài sản có không sinh lời.Chỉ số này cho phép nhận định mức độ tận dụng các nguồn vốn của một NH để đạt mục tiêu kinh doanh của NH đó là tối đa hoá lợi nhuận.Tài sản có không sinh lời nhƣ tiền mặt tại quỹ, tiền gửi dự trữ bắt buộc tại NHTW, tài sản cố định là quan trọng không thể thiếu nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, phòng tránh rủi ro cho NHTM. Nhƣng chỉ có tài sản có có khả năng sinh lời mới mang lại thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát triển của một NH. Do vậy nhóm tài sản có sinh lời phải chiếm tỷ trọng áp đảo so với nhóm tài sản có không sinh lời.
Mặt khác, chất lƣợng tài sản có còn thể hiện ở chỉ tiêu chất lƣợng tín dụng và tác động của nó đối với tình hình tài chính của NHTM. Chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lƣợng tín dụng là chỉ số tài sản có đọng: Tổng giá trị tài sản có đọng trong kỳ Chỉ số tài sản có đọng = -------------------------------------------- Tổng giá trị tài sản có trong kỳ Với chỉ tiêu này, ngƣời ta có thể nhận xét mức độ của tài sản có đọng nói chung trong một thời kỳ nhất định của một NH. Khi tổng hợp các khoản nợ của một 10 z thời kỳ nào đó nếu nó bằng hoặc lớn hơn 50% vốn của NH thì có thể khẳng định khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của NH này đang bị suy yếu, nếu không có giải pháp thích hợp có thể dẫn tới sự phá sản của NH đó. Phân tích chất lƣợng tài sản có còn đƣợc đánh giá trên góc độ tài sản đảm bảo của khoản vay.Vì tài sản đảm bảo góp phần làm nhẹ mức độ nghiêm trọng của tài sản đọng.
Và tình trạng ngoại hối thể hiện giá trị tài sản có đánh giá bằng ngoại tệ ở trạng thái trƣờng thế hay đoản thế, để biết đƣợc nguy cơ rủi ro có thể gặp trong kinh doanh ngoại hối của NH.